AI mở hướng phát triển chăn nuôi thông minh tại Việt Nam

AI và công nghệ số giúp trang trại Việt Nam giám sát vật nuôi, kiểm soát môi trường, tối ưu chi phí và truy xuất nguồn gốc, hướng tới chăn nuôi bền vững.

Mô hình nuôi gà đẻ trứng với hệ thống máy móc hiện đại của Công ty TNHH Chăn nuôi Công nghệ cao 168, xã Tam Ngãi, tỉnh Vĩnh Long. (Ảnh: Thanh Hòa/TTXVN)
Mô hình nuôi gà đẻ trứng với hệ thống máy móc hiện đại của Công ty TNHH Chăn nuôi Công nghệ cao 168, xã Tam Ngãi, tỉnh Vĩnh Long. (Ảnh: Thanh Hòa/TTXVN)

Trước áp lực về chi phí sản xuất, năng suất, dịch bệnh và yêu cầu bảo vệ môi trường, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ số đang mở ra hướng đi mới cho ngành chăn nuôi Việt Nam.

Từ giám sát sức khỏe vật nuôi, kiểm soát môi trường chuồng trại đến quản lý thức ăn và truy xuất nguồn gốc, công nghệ từng bước thay đổi phương thức sản xuất, hướng tới nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững.

Chuyển đổi phương thức quản lý bằng dữ liệu

Ngành chăn nuôi Việt Nam đang đứng trước yêu cầu đổi mới phương thức sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh. Bên cạnh áp lực về chi phí đầu vào, các cơ sở chăn nuôi còn phải đối mặt với nguy cơ dịch bệnh, yêu cầu bảo đảm an toàn sinh học và những tiêu chuẩn ngày càng cao về bảo vệ môi trường. Trong khi đó, công tác quản lý tại nhiều cơ sở vẫn còn phân tán, dữ liệu chưa được kết nối đồng bộ giữa các khâu sản xuất.

Phát biểu tại hội thảo “Hành trình chuyển đổi sang chăn nuôi dựa trên dữ liệu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI)” trong khuôn khổ Hội nghị Khoa học chăn nuôi Á-Úc lần thứ 21 vừa qua, Tiến sỹ Bùi Huy Doanh, Phó Trưởng khoa phụ trách Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, cho biết những hạn chế trong quản lý dữ liệu đang ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát và tối ưu hóa hoạt động chăn nuôi. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông xuyên suốt từ con giống, thức ăn chăn nuôi, vật tư thú y đến quá trình tiêu thụ sản phẩm.

Đây được xem là nền tảng để chuyển từ phương thức quản lý dựa chủ yếu vào kinh nghiệm sang điều hành sản xuất dựa trên dữ liệu. Khi thông tin được thu thập và cập nhật thường xuyên, người chăn nuôi có thể theo dõi sát tình hình sản xuất, kiểm soát các yếu tố đầu vào và kịp thời điều chỉnh quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng.

Trên nền tảng đó, các công nghệ như cảm biến, camera thông minh và AI có thể hỗ trợ giám sát liên tục môi trường chuồng trại, theo dõi tình trạng vật nuôi, phát hiện biểu hiện bất thường và cảnh báo sớm nguy cơ dịch bệnh. Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào việc kiểm tra thủ công, người quản lý có thêm công cụ để nhận diện rủi ro và chủ động đưa ra biện pháp xử lý.

ttxvn_chan-nuoi-thong-minh-4.jpg
Thu hoạch sữa ở trang trại bò sữa của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam (Vinamilk), khu chăn nuôi tập trung Nhơn Tân ở xã An Nhơn Tây, tỉnh Gia Lai. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Đáng chú ý, AI có khả năng phân tích khối lượng dữ liệu lớn, nhận diện những biến động và mối liên hệ khó phát hiện bằng phương pháp quản lý thông thường. Khi được tích hợp với hệ thống cảm biến và phần mềm quản trị, công nghệ này góp phần nâng cao khả năng dự báo, hỗ trợ điều chỉnh điều kiện chăn nuôi phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng của vật nuôi.

Theo Tiến sỹ Bùi Huy Doanh, mục tiêu của chuyển đổi số không phải là đầu tư ồ ạt hay mua sắm nhiều thiết bị đắt tiền mà phải nâng cao thực chất hiệu quả sản xuất và khả năng thích ứng của toàn ngành.

Các giải pháp công nghệ cần được nghiên cứu, kiểm chứng về hiệu quả kỹ thuật và kinh tế trước khi nhân rộng, lấy nhu cầu thực tiễn và lợi ích của người chăn nuôi làm trung tâm.

AI nâng cao hiệu quả vận hành trang trại

Nhiều doanh nghiệp đang từng bước ứng dụng công nghệ số vào quản lý trang trại, hướng tới kết nối dữ liệu và tự động hóa các công đoạn. Những giải pháp này không chỉ giúp giảm khối lượng công việc thủ công mà còn nâng cao khả năng kiểm soát hoạt động sản xuất.

Hệ thống quản lý số hóa toàn diện cho phép nhân sự ghi nhận thông tin nghiệp vụ ngay tại khu vực chuồng nuôi thông qua thiết bị di động thông minh kết hợp với thẻ định danh điện tử gắn trên vật nuôi.

Nhờ đó, dữ liệu được cập nhật kịp thời, chính xác, giúp nhà quản lý theo dõi diễn biến sản xuất hằng ngày và đưa ra quyết định dựa trên thông tin thực tế thay vì cảm tính. Việc số hóa cũng góp phần hạn chế sai sót trong ghi chép, tổng hợp và lưu trữ dữ liệu.

Một ứng dụng thiết thực khác là hệ thống cảm biến tự động kiểm soát môi trường chuồng trại. Các thiết bị có thể theo dõi điều kiện vi khí hậu, kết nối với hệ thống quạt thông gió và làm mát. Khi các thông số vượt ngưỡng bất thường, hệ thống tự động điều chỉnh hoặc phát tín hiệu cảnh báo để nhân sự kịp thời xử lý.

ttxvn_chan-nuoi-thong-minh.jpg
Đàn bò được chăm sóc, nuôi dưỡng bằng khẩu phần thức ăn kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo tiêu chuẩn. (Ảnh: Thanh Tân/TTXVN)

Trong chăn nuôi tập trung, nhiệt độ, độ ẩm và chất lượng không khí có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, khả năng sinh trưởng của vật nuôi. Việc kiểm soát các yếu tố này giúp hạn chế nguy cơ stress, giảm sức đề kháng và những tác động bất lợi đến năng suất. Đồng thời, cơ chế giám sát tự động giúp giảm sự phụ thuộc vào kiểm tra thủ công, nâng cao tính chủ động trong vận hành.

Bên cạnh đó, camera tích hợp AI được sử dụng để hỗ trợ kiểm soát an toàn sinh học, giám sát người và phương tiện ra vào khu vực trang trại. Giải pháp này góp phần phát hiện những trường hợp không tuân thủ quy trình, hạn chế nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh từ bên ngoài vào các khu vực chăn nuôi tập trung.

Với những trang trại có quy mô lớn, việc kiểm soát người, phương tiện và vật tư ra vào bằng phương pháp thủ công gặp nhiều khó khăn. Hệ thống giám sát tự động giúp tăng cường khả năng theo dõi, cảnh báo và hỗ trợ thực hiện các quy định an toàn sinh học.

Việc tích hợp dữ liệu giúp chủ trang trại có cái nhìn toàn diện hơn về quá trình sản xuất, từ đó đánh giá hiệu quả sử dụng thức ăn, kiểm soát chi phí và nhận diện những khâu còn bất hợp lý. Thông tin về quá trình chăm sóc, sử dụng thuốc thú y cũng tạo cơ sở để kiểm soát chất lượng và minh bạch nguồn gốc sản phẩm.

Hoàn thiện nền tảng để nhân rộng mô hình

Dù mở ra nhiều cơ hội, ứng dụng AI trong chăn nuôi Việt Nam vẫn đối mặt với những thách thức về hạ tầng, dữ liệu, nguồn nhân lực và khả năng đầu tư. Trong đó, chuẩn hóa dữ liệu được xem là yêu cầu quan trọng hàng đầu. AI chỉ có thể phân tích và đưa ra cảnh báo có giá trị khi được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và liên tục.

Các cơ sở chăn nuôi có sự khác biệt lớn về quy mô, đối tượng vật nuôi, phương thức sản xuất và năng lực tài chính. Vì vậy, không thể áp dụng một mô hình công nghệ giống nhau cho tất cả.

Giải pháp dành cho trang trại công nghiệp quy mô lớn cần có sự khác biệt với những cơ sở chăn nuôi vừa và nhỏ, trong khi yêu cầu quản lý giữa các nhóm vật nuôi cũng không hoàn toàn giống nhau.

Do đó, bên cạnh xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông, ngành chăn nuôi cần chú trọng lựa chọn công nghệ phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương và cơ sở sản xuất.

Việc đầu tư nên có lộ trình, ưu tiên những khâu có nguy cơ phát sinh chi phí lớn hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng và an toàn dịch bệnh.

Nguồn nhân lực cũng là yếu tố quyết định hiệu quả chuyển đổi số. Người lao động không chỉ cần kiến thức về chăn nuôi, thú y mà còn phải có kỹ năng sử dụng thiết bị thông minh, cập nhật dữ liệu và xử lý các cảnh báo từ hệ thống. Đội ngũ quản lý cần được trang bị năng lực phân tích thông tin để chuyển hóa dữ liệu thành quyết định điều hành phù hợp.

ttxvn_chan-nuoi-thong-minh-2.jpg
Hệ thống máng ăn tự động và sàn nuôi thông thoáng tại khu chuồng trại lợn khép kín của gia đình ông Nguyễn Văn Vẻ, xã Việt Tiến, tỉnh Hưng Yên. (Ảnh: Đinh Văn Nhiều/TTXVN)

Cùng với đó, cần tăng cường hợp tác giữa cơ quan quản lý nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và cộng đồng doanh nghiệp. Các cơ sở khoa học tham gia nghiên cứu, kiểm chứng giải pháp; doanh nghiệp công nghệ phát triển nền tảng và thiết bị; doanh nghiệp chăn nuôi triển khai, đánh giá hiệu quả trong thực tế. Sự phối hợp này sẽ góp phần hoàn thiện công nghệ, xây dựng các mô hình phù hợp và tạo điều kiện nhân rộng những giải pháp có hiệu quả.

Một yêu cầu quan trọng khác là đánh giá chuyển đổi số trên cơ sở kết quả sản xuất cụ thể, thay vì số lượng thiết bị được đầu tư. Các tiêu chí như giảm chi phí, cải thiện năng suất, hạn chế dịch bệnh, sử dụng hiệu quả thức ăn và vật tư, nâng cao chất lượng sản phẩm cần được đặt ở vị trí trung tâm.

Về lâu dài, ứng dụng AI cần gắn với mục tiêu phát triển chăn nuôi an toàn sinh học, kiểm soát môi trường và nâng cao tính minh bạch của chuỗi cung ứng.

Hệ thống dữ liệu được kết nối không chỉ phục vụ quản lý nội bộ trang trại mà còn tạo cơ sở theo dõi quá trình sản xuất, kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

AI không thay thế hoàn toàn kinh nghiệm và chuyên môn của người chăn nuôi mà đóng vai trò công cụ hỗ trợ quản trị, dự báo và kiểm soát rủi ro. Khi được triển khai trên nền tảng dữ liệu chuẩn hóa, nguồn nhân lực phù hợp và lộ trình đầu tư hiệu quả, công nghệ này sẽ góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi từ chăn nuôi truyền thống sang chăn nuôi thông minh, tạo nền tảng cho ngành chăn nuôi Việt Nam phát triển hiện đại và bền vững./.

(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục

Hội nghị World Data Summit APAC 2026 diễn ra ở Kuala Lumpur (Malaysia) với chủ đề “Ứng dụng trí tuệ nhân tạo để tăng trưởng hai con số: Bài học thực tiễn từ doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam”. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Ứng dụng mô hình AI 5-RE Growth Cycle và mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường xuyên đối mặt với áp lực phải mở rộng thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm trong khi nguồn lực về nhân sự, thời gian và ngân sách có hạn. Thay vì triển khai công nghệ một cách ồ ạt, doanh nghiệp nên chọn một công việc thường xuyên phát sinh, xác định điểm nghẽn, thử nghiệm ở quy mô nhỏ rồi mới mở rộng.