Ngàn năm qua, sông Hồng đỏ nặng phù sa không chỉ bồi đắp nên đồng bằng Bắc Bộ trù phú, mà còn “nuôi dưỡng” hồn cốt văn minh Thăng Long - Hà Nội.
Giờ đây, trước khát vọng phát triển, dòng sông ấy đang được đặt vào vị trí “xương sống” của một siêu đô thị đa cực, đa tầng với tầm nhìn trăm năm; hứa hẹn biến hai bên bờ sông thành biểu tượng của sự thịnh vượng và hiện đại: Không chỉ kiến tạo cảnh quan môi trường, làm đẹp không gian sinh thái; mà còn mở rộng không gian đô thị, tái cấu trúc hạ tầng, hình thành những cực tăng trưởng kinh tế mới, nâng cao chất lượng sống cho người dân.
Đó cũng là sự lựa chọn tất yếu để nâng tầm hình ảnh, vị thế Thủ đô Hà Nội trong mắt bạn bè quốc tế về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.
Từ “ranh giới tự nhiên” đến trục phát triển mới
Trong lịch sử phát triển của nhiều đô thị lớn trên thế giới, những dòng sông luôn giữ vai trò khởi nguồn cho văn minh, thương mại và không gian sống.
Với Hà Nội, sông Hồng không chỉ là một dòng chảy địa lý, mà còn là trục hình thành nên vùng đất Thăng Long nghìn năm văn hiến. Dòng sông ấy vốn là “mạch máu” tích tụ phù sa, hình thành làng mạc, nuôi dưỡng nền văn minh văn hóa lúa nước và mở ra những tuyến giao thương đầu tiên ở miền Bắc.
việc định vị lại vai trò của sông Hồng trong quy hoạch tổng thể Thủ đô không chỉ là lựa chọn phát triển, mà còn là “bước chuyển mình” quan trọng về tư duy đô thị.
Tuy nhiên, suốt nhiều thập niên phát triển đô thị, sông Hồng lại tồn tại như một “ranh giới tự nhiên” chia cắt không gian đô thị. Hà Nội phát triển mạnh về phía Tây, trong khi không gian ven sông và phía Bắc, phía Đông chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng. Hệ quả là cấu trúc đô thị mất cân đối, áp lực dân cư, giao thông và hạ tầng dồn nén vào khu vực nội đô.
Bởi vậy, việc định vị lại vai trò của sông Hồng trong quy hoạch tổng thể Thủ đô không chỉ là lựa chọn phát triển, mà còn là “bước chuyển mình” quan trọng về tư duy đô thị. Lần đầu tiên, dòng sông này được nhìn nhận như một “trục xương sống” chiến lược, kết nối các cực tăng trưởng, mở rộng không gian phát triển và tái cấu trúc toàn bộ diện mạo Hà Nội trong thế kỷ XXI.
Tầm nhìn trên càng có cơ sở khi Quy hoạch Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng xác lập quy mô hơn 11.400ha với tổng mức đầu tư sơ bộ gần 737.000 tỷ đồng, dự kiến triển khai đến năm 2038. Xa hơn, Quyết định số 2512 của Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội định hướng phát triển Thủ đô đến năm 2085 đã xác lập cấu trúc đô thị hiện đại với 9 trung tâm - cực tăng trưởng lớn.
Rõ ràng, đây không chỉ là câu chuyện mở rộng đô thị, mà hơn thế là một cuộc tái thiết không gian phát triển mới của Thủ đô. Trong công cuộc đổi mới lần này, nếu trong nhiều năm qua, phía Tây từng là “động cơ tăng trưởng,” thì giờ đây, sông Hồng được kỳ vọng sẽ mở ra một chu kỳ phát triển mới về phía Bắc và phía Đông - nơi còn nhiều dư địa cho hạ tầng hiện đại, logistics, kinh tế xanh, công nghiệp sáng tạo và kết nối quốc tế.
Trong nhiều năm qua, nếu phía Tây từng là “động cơ tăng trưởng,” thì giờ đây sông Hồng được kỳ vọng sẽ mở ra một chu kỳ phát triển mới về phía Bắc và phía Đông - nơi còn nhiều dư địa cho hạ tầng hiện đại, logistics, kinh tế xanh, công nghiệp sáng tạo và kết nối quốc tế.
Trong cấu trúc ấy, trung tâm Nam sông Hồng giữ vai trò đầu não chính trị, hành chính, văn hóa và tài chính; trung tâm Bắc sông Hồng trở thành không gian kinh tế và hội nhập quốc tế; còn các cực như Hòa Lạc, Sơn Tây, Phú Xuyên, Xuân Mai hay Vân Đình - Đại Nghĩa sẽ tạo nên mạng lưới đô thị đa chức năng như: Phát triển theo hướng thương mại, dịch vụ hội nhập quốc tế, kết hợp y tế, du lịch, logistics và giáo dục - đào tạo, các hoạt động thể thao quốc gia và quốc tế, di sản văn hóa, tâm linh, du lịch, sinh thái cảnh quan...
Quy hoạch "thuận thiên" để phát triển bền vững
Chưa bao giờ sông Hồng được đặt vào vị trí trung tâm của tầm nhìn phát triển quốc gia như hôm nay. Điều đó cho thấy khát vọng đưa sông Hồng trở thành biểu tượng mới của một Thủ đô hiện đại là hoàn toàn chính đáng.
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, không ai muốn Hà Nội tụt lại phía sau trong cuộc cạnh tranh phát triển giữa các đô thị lớn trên thế giới. Song phát triển như thế nào để vừa hiện đại hóa đô thị, vừa giữ được an toàn sinh thái và bản sắc văn hóa mới vẫn là bài toán cần được nhìn nhận kỹ lưỡng.
Theo Kiến trúc sư Trần Huy Ánh, Uỷ viên Ban Thường vụ Hội Kiến trúc sư Hà Nội, điều quan trọng nhất của quy hoạch là mang lại chất lượng sống cho con người. Với sông Hồng, điều ấy càng đúng hơn bao giờ hết. Bởi đây không chỉ là một trục không gian cảnh quan, mà còn là hành lang thoát lũ cốt lõi của cả vùng đồng bằng Bắc Bộ. Do đó, để sông Hồng trở thành trục phát triển bền vững, hơn hết cần đảm bảo tư duy quy hoạch tích hợp, đồng bộ và luôn đặt yếu tố an sinh của người dân, sự hài hoà với tự nhiên lên hàng đầu.
Quy hoạch sông Hồng thành trục phát triển "xanh" đòi hỏi chuyển đổi cấu trúc đô thị từ đơn tâm sang đa cực, lấy dòng sông làm trung tâm. Trong đó không thể thiếu giải pháp "thuận thiên" kết hợp hài hòa giữa bảo tồn sinh thái, phát triển hạ tầng giao thông, không gian văn hóa.
Hơn thế, trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan, thiên tai khó đoán định, tư duy quy hoạch “thuận thiên” càng trở thành yêu cầu bắt buộc. Đó không phải là tư duy phát triển chậm lại hay từ chối đô thị hóa, mà là phát triển dựa trên sự hiểu biết sâu sắc về quy luật tự nhiên của dòng sông.
Thực tế, nhiều năm qua, sông Hồng chủ yếu được nhìn dưới góc độ đê điều và phòng chống thiên tai. Do vậy, khi dòng sông được đưa vào trung tâm của chiến lược phát triển, mọi can thiệp vào lòng sông, bãi sông và hành lang thoát lũ đều phải được tính toán bằng tầm nhìn dài hạn, hiệu quả.
Điều đó cũng nói lên rằng các vùng bãi sông không chỉ đơn thuần là “đất trống” để phát triển đô thị. Trong nhiều trường hợp, đó chính là vùng đệm sinh thái tự nhiên giúp hấp thụ năng lượng lũ tự nhiên, điều tiết dòng chảy và giảm thiểu rủi ro khi xuất hiện thời tiết bất thường. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng, yêu cầu đặt ra không chỉ là phát triển không gian ven sông, mà còn là nâng cao khả năng chống chịu của toàn bộ hệ thống đô thị - sinh thái - cộng đồng gắn với dòng sông.
Trong nhiều năm qua, việc vận hành liên hồ Sơn La - Hòa Bình - Tuyên Quang - Thác Bà đã góp phần quan trọng trong cắt, giảm lũ cho vùng hạ du sông Hồng. Tuy nhiên, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, mưa cực đoan và già hóa công trình,... việc phụ thuộc quá lớn vào một giải pháp đơn lẻ có thể làm gia tăng rủi ro trong dài hạn.
Bởi vậy, quy hoạch sông Hồng cần đặt trong tư duy “an toàn nhiều lớp” - kết hợp giữa đê điều, hồ chứa, hành lang thoát lũ, hạ tầng sinh thái, vùng trữ nước tự nhiên và hệ thống cảnh báo sớm. Điều quan trọng không phải lựa chọn giữa “công trình” hay “phi công trình,” mà là xây dựng một mô hình quản trị tổng hợp có khả năng thích ứng linh hoạt trước biến đổi khí hậu.
Nhìn ra thế giới, có thể thấy nhiều quốc gia đã phải trả giá đắt trước khi chuyển đổi tư duy quản trị lũ trong điều kiện biến đổi khí hậu. Đơn cử như Hà Lan, hiện nay không còn theo đuổi mục tiêu “kiểm soát tuyệt đối” dòng sông, mà triển khai chương trình “Dành không gian cho dòng sông,” cũng như mở rộng vùng trữ lũ tự nhiên để giảm áp lực cho hệ thống công trình.
Tại Seoul (Hàn Quốc), dự án phục hồi suối Cheonggyecheon cũng là một trong những ví dụ điển hình cho thấy việc chuyển đổi từ tư duy hạ tầng cứng sang kết hợp giữa phục hồi sinh thái, cải thiện vi khí hậu, mở rộng không gian công cộng và tăng khả năng hấp thụ nước tự nhiên cho đô thị.
Kinh nghiệm từ quốc tế cho thấy mỗi một dòng sông lớn đều vận động theo quy luật của thủy lực, địa hình và cân bằng tự nhiên. Vì vậy, mọi tác động cần được đánh giá thận trọng trên cơ sở khoa học và tầm nhìn dài hạn. Phát triển ven sông vì thế không thể chỉ nhìn dưới góc độ mở rộng đô thị hay gia tăng giá trị bất động sản, mà cần được đặt trong tổng thể an toàn sinh thái, an toàn cộng đồng và sức chống chịu dài hạn của cả hệ thống.
Giữ “lũy tre làng yêu nước” trong hình thái phát triển đa giá trị
Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi xanh toàn cầu, theo nhìn nhận của giới chuyên gia, nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay đang dần chuyển từ mô hình phát triển đơn mục tiêu sang mô hình phát triển đa giá trị.
Nghĩa là không gian ven sông không chỉ phục vụ giao thông hay bất động sản, mà đồng thời tạo ra giá trị sinh thái, du lịch, giáo dục môi trường, hấp thụ carbon và nâng cao chất lượng sống cộng đồng. Đối với Việt Nam chúng ta, điều đó càng phù hợp với không gian sông Hồng - nơi không chỉ cần phát triển kinh tế, mà còn cần giữ được hành lang thoát lũ, vùng đệm sinh thái, làng nghề, sinh kế cư dân và chiều sâu văn hóa của Thăng Long - Hà Nội.
Từ thực tiễn nghiên cứu, Tiến sỹ Vương Trung Thành, đại diện nhóm nghiên cứu Đề án “Nông nghiệp tích hợp đa dụng” cho rằng phát triển ven sông trong giai đoạn mới có thể hướng tới mô hình đa giá trị, hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo tồn sinh thái và nâng cao sức chống chịu trước biến đổi khí hậu.
Phát triển ven sông Hồng cần hướng tới mô hình đa giá trị, hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo tồn sinh thái và nâng cao sức chống chịu trước biến đổi khí hậu.
Thay vì chỉ phát triển theo hướng bê tông hóa tối đa ven sông, vùng bãi sông hoàn toàn có thể kết hợp duy trì không gian sinh thái - nông nghiệp - văn hóa - cộng đồng đa chức năng, kết hợp giữa vùng rau ven sông, làng hoa Nhật Tân, du lịch văn hóa Bát Tràng, hay các tuyến sinh thái ven đê, công viên nông nghiệp đô thị, không gian trải nghiệm phù sa - môi trường, trung tâm giáo dục sinh thái và các mô hình kinh tế cộng đồng xanh.
"Việc sông Hồng được quy hoạch phù hợp, đây không chỉ là câu chuyện phát triển cảnh quan ven sông, mà còn có thể trở thành nền tảng cho một mô hình phát triển mới trong kỷ nguyên chuyển đổi xanh: Phát triển nhưng không đánh đổi an toàn; hiện đại nhưng không tách rời cội nguồn; tăng trưởng nhưng vẫn giữ được nền tảng sinh thái, bản sắc văn hóa và sức chống chịu của cộng đồng địa phương, 'lũy tre làng yêu nước' của người Việt qua nhiều thế hệ," Tiến sỹ Vương Trung Thành chia sẻ.
Thực tế trong lịch sử dân tộc nước ta cho thấy “lũy tre làng yêu nước” chưa bao giờ chỉ là một hình ảnh biểu tượng. Đó là không gian sinh tồn, không gian văn hóa và cũng là “thành lũy mềm” gìn giữ làng quê Việt Nam qua chiến tranh, thiên tai và những biến động lớn của lịch sử dân tộc.
Dưới bóng tre là mái nhà, giếng nước, sân đình, đồng lúa. Cũng dưới bóng tre là tinh thần đoàn kết cộng đồng, tinh thần giữ làng, giữ đất, giữ nước và lòng yêu nước bền bỉ của người Việt qua nhiều thế hệ.
Với tầm nhìn dài hạn, tư duy quy hoạch phát triển theo hướng đa giá trị, cùng quyết tâm chính trị cao và sự đồng thuận của xã hội, khu vực ven sông Hồng hoàn toàn có thể trở thành động lực mới cho khát vọng phát triển xanh, văn minh và thịnh vượng của Thủ đô Hà Nội.
Nhìn ở góc độ hiện đại, “lũy tre làng yêu nước” còn phản ánh một mô hình phát triển có khả năng chống chịu cao của người Việt: Linh hoạt nhưng bền vững; thích ứng với tự nhiên thay vì đối đầu với tự nhiên. Tre giữ đất, chắn gió, giảm xói lở, tạo vùng đệm sinh thái tự nhiên cho làng quê ven sông; đồng thời tạo sinh kế thông qua vật liệu xây dựng, thủ công mỹ nghệ, thực phẩm, dược liệu, du lịch trải nghiệm và không gian sinh hoạt cộng đồng.
Đó cũng chính là tinh thần của tư duy nông nghiệp tích hợp, đa dụng trong kỷ nguyên phát triển mới. Tức là theo hướng cộng sinh giữa con người, thiên nhiên, văn hóa và kinh tế địa phương. Không gian ven sông Hồng vì vậy không chỉ được nhìn dưới góc độ đất đai hay hạ tầng đô thị, mà còn có thể trở thành một hệ sinh thái kinh tế - văn hóa - sinh thái đa giá trị.
Hy vọng rằng với tầm nhìn dài hạn, tư duy quy hoạch phát triển theo hướng đa giá trị, cùng với quyết tâm chính trị cao và sự đồng thuận của xã hội, Nhân dân, dòng sông từng được xem là “bài toán khó” hoàn toàn có thể trở thành động lực mới cho khát vọng phát triển xanh, văn minh và thịnh vượng của Thủ đô Hà Nội - “trái tim của cả nước” trong kỷ nguyên mới./.
Hà Nội lên kế hoạch phát triển du lịch đường sông giai đoạn 2026-2030
Du lịch đường sông của Hà Nội trong giai đoạn 2026-2030 được lên kế hoạch phát triển nhằm đồng hành với giai đoạn mới của Quy hoạch Thủ đô, quy hoạch trục đại lộ cảnh quan sông Hồng...