Australia điều chỉnh chính sách di trú: Việt Nam vẫn là thị trường được quan tâm

Tỷ lệ cấp thị thực cho sinh viên Việt Nam ở mức tương đối tích cực so với mặt bằng chung, trong khi các trường đại học Australia đánh giá cao thái độ học tập, chất lượng của nhiều sinh viên Việt Nam.
Sinh viên Đại học New South Wales ở thành phố Sydney. (Ảnh: Lê Đạt/TTXVN)

Theo phóng viên TTXVN tại Sydney, ngày 17/9, Bộ trưởng Nội vụ Australia Tony Burke công bố giai đoạn tiếp theo trong chương trình cải cách hệ thống di trú, với mục tiêu tăng khả năng kiểm soát đối với người nhập cảnh, người được ở lại và người phải rời Australia, đồng thời định hướng dòng di cư phù hợp hơn với nhu cầu thực tế của nền kinh tế.

Các biện pháp mới bao gồm hạn chế người thân đi kèm đối với phần lớn thị thực (visa) sinh viên và thị thực sau tốt nghiệp; siết tình trạng chuyển đổi liên tục giữa các khóa học và loại thị thực để kéo dài thời gian lưu trú, thường được gọi là “visa hopping;” áp dụng điều kiện “No Further Stay” đối với thị thực du lịch; thay đổi chương trình Lao động kết hợp kỳ nghỉ (Working Holiday Maker) theo hướng áp dụng cơ chế bốc thăm đối với người giữ thị thực sang năm thứ 2 và thứ 3; đồng thời tăng ưu tiên xử lý thị thực lao động có kỹ năng trong những ngành đang thiếu nhân lực.

Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Sydney, ông Brian Quang Đinh, Giám đốc Edunetwork Australia, cho rằng thông điệp quan trọng nhất từ đợt điều chỉnh lần này là Australia vẫn cần sinh viên quốc tế và lao động có kỹ năng, nhưng muốn bảo đảm các loại thị thực tạm trú được sử dụng đúng mục đích ban đầu.

Theo ông, đối với sinh viên quốc tế, tác động rõ nhất sẽ nằm ở việc lựa chọn khóa học và xây dựng lộ trình học tập. Việc hoàn thành một chương trình rồi liên tục chuyển sang những khóa học cùng cấp hoặc thấp hơn chỉ nhằm kéo dài thời gian ở Australia sẽ ngày càng khó thực hiện. Nếu tiếp tục học, sinh viên sẽ phải chứng minh lộ trình học tập có sự phát triển hợp lý về trình độ, chẳng hạn từ bậc cử nhân lên thạc sĩ.

Một trong những thay đổi nhận được nhiều sự quan tâm nhất là hạn chế người thân đi cùng sinh viên quốc tế. Liên quan đến quy định này, ông Brian cho biết thông báo của Bộ trưởng Burke chỉ rõ các quốc gia ASEAN và các quốc đảo Thái Bình Dương, cùng một số nhóm học viên như nghiên cứu sinh tiến sĩ, sẽ được hưởng ngoại lệ. Theo đó, sinh viên mang hộ chiếu Việt Nam hiện nằm trong nhóm được phép tiếp tục đưa người thân đi cùng theo các điều kiện áp dụng.

Bà Jane Trần, Phó Chủ tịch Hội Tri thức và Chuyên gia Việt Nam tại Australia (VASEA), Giám đốc Tổ chức Tet Education, cho rằng chính sách đối với người phụ thuộc là một yếu tố có ảnh hưởng đáng kể đến sức hấp dẫn của Australia đối với sinh viên quốc tế, nhất là nhóm học viên sau đại học đã lập gia đình và có con nhỏ.

Từ kinh nghiệm trực tiếp hỗ trợ sinh viên Việt Nam, bà nhận thấy khả năng đi du học đưa gia đình theo cùng từng là một trong những yếu tố khiến Australia được nhiều học viên sau đại học lựa chọn.

Bà Jane Trần cho biết việc Chính phủ Australia đưa ra ngoại lệ cho một số nhóm sinh viên có ý nghĩa quan trọng. Tuy nhiên, cần tiếp tục theo dõi các quy định triển khai cụ thể để xác định chính xác phạm vi và điều kiện áp dụng đối với từng nhóm người học.

Cả hai chuyên gia đều cho rằng không nên hiểu những điều chỉnh mới đồng nghĩa với việc Australia không còn chào đón sinh viên quốc tế. Thực tế, Chính phủ Australia đã quyết định giữ National Planning Level (mức kế hoạch quốc gia) đối với sinh viên quốc tế năm 2027 ở mức 295.000 lượt nhập học mới, bằng năm 2026.

Đây không phải là mức trần tuyệt đối đối với tổng số sinh viên quốc tế, mà là công cụ phục vụ việc điều tiết và ưu tiên xử lý hồ sơ thị thực. Những sinh viên đáp ứng đầy đủ điều kiện vẫn có thể nộp đơn và được cấp thị thực.

Ông Brian Quang Đinh cho rằng những thay đổi rõ nhất không phải là nhu cầu tiếp nhận sinh viên quốc tế, mà là yêu cầu ngày càng cao về tính xác thực của mục đích học tập. Thị thực sinh viên phải thực sự phục vụ việc học, thay vì trở thành công cụ để kéo dài thời gian cư trú tại Australia.

Nhìn từ phía ngành giáo dục, bà Jane Trần cho rằng sinh viên quốc tế vẫn giữ vai trò rất quan trọng đối với Australia. Không chỉ đóng học phí, họ còn tạo ra nhu cầu về nhà ở, đi lại và tiêu dùng, qua đó đóng góp đáng kể cho nền kinh tế. Không chỉ thế, một bộ phận sinh viên sau khi tốt nghiệp bổ sung nguồn nhân lực cho những ngành đang thiếu lao động.

Điều này cũng lý giải vì sao các trường đại học Australia vẫn có nhu cầu thu hút sinh viên quốc tế có chất lượng, ngay cả khi Chính phủ tăng cường kiểm soát quy mô và tính liêm chính của hệ thống.

Đối với Việt Nam, bà Jane Trần nhận định đây vẫn là một thị trường được các cơ sở giáo dục Australia quan tâm. Theo những số liệu bà theo dõi, tỷ lệ cấp thị thực cho sinh viên Việt Nam vẫn ở mức tương đối tích cực so với mặt bằng chung, trong khi các trường đại học Australia đánh giá cao thái độ học tập và chất lượng của nhiều sinh viên Việt Nam.

Một điểm mới đáng chú ý trong đợt cải cách lần này là Australia đồng thời siết một số dòng thị thực tạm trú, nhưng tăng ưu tiên đối với lao động có kỹ năng trong các ngành thiếu nhân lực.

Theo thông báo của chính phủ, các lĩnh vực được ưu tiên xử lý thị thực kỹ năng bao gồm y tế, xây dựng, giáo dục, thực thi pháp luật, quốc phòng, tài nguyên, nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và đánh bắt thủy sản. Trong đó, một số nghề thuộc lĩnh vực xây dựng, y tế và giảng dạy được đặt ở mức ưu tiên cao.

Bà Jane Trần cho rằng định hướng này có thể mở ra thêm cơ hội cho sinh viên Việt Nam, cũng như những lao động Việt Nam đã có chuyên môn phù hợp. Đặc biệt, không chỉ sinh viên vừa tốt nghiệp mà cả những cựu du học sinh Australia đang ở Việt Nam cũng có thể có thêm cơ hội nếu đáp ứng được yêu cầu của các dòng thị thực kỹ năng. Tuy nhiên, bà nhấn mạnh mỗi loại thị thực có những điều kiện, yêu cầu nghề nghiệp và ràng buộc riêng, nên người có nhu cầu cần nghiên cứu kỹ trước khi xây dựng kế hoạch.

Đây cũng là nội dung được ông Brian Quang Đinh đặc biệt lưu ý. Theo ông, những con đường chủ yếu dựa vào việc liên tục chuyển từ thị thực này sang thị thực khác để duy trì thời gian lưu trú tại Australia sẽ ngày càng bị thu hẹp.

Ngược lại, những người có mục tiêu học tập rõ ràng, phát triển năng lực nghề nghiệp thực chất và sở hữu những kỹ năng Australia đang cần vẫn có cơ hội học tập, làm việc và hướng tới cư trú dài hạn.

Với những học sinh, sinh viên Việt Nam đang cân nhắc du học Australia, ông Brian cho rằng điều đầu tiên là không nên quá hoang mang trước những cụm từ như “siết thị thực” hay “cải tổ di trú.”

Điều quan trọng hơn là lựa chọn đúng khóa học ngay từ đầu. Ngành học cần phù hợp với nền tảng, năng lực và mục tiêu nghề nghiệp của người học; nếu tiếp tục học lên, lộ trình phải thể hiện sự phát triển hợp lý về trình độ và chuyên môn.

Yếu tố thứ hai là năng lực tài chính. Sinh viên không nên xây dựng kế hoạch du học trên giả định có thể dựa chủ yếu vào việc làm thêm để trang trải học phí và sinh hoạt. Trong bối cảnh cơ quan di trú ngày càng kiểm tra chặt chẽ tính xác thực của hồ sơ, việc chứng minh khả năng tài chính bền vững sẽ càng quan trọng.

Cuối cùng, đối với những người đặt mục tiêu làm việc hoặc định cư lâu dài tại Australia, ông Brian khuyến nghị nên tính toán lộ trình nghề nghiệp từ sớm nhưng không nên lựa chọn ngành học chỉ dựa trên quan niệm ngành nào “dễ lấy PR.”

Nhìn tổng thể, các ý kiến cho thấy đợt điều chỉnh ngày 17/9 không làm thay đổi thực tế rằng Australia vẫn cần sinh viên quốc tế và lao động nhập cư có kỹ năng. Thay đổi lớn nằm ở cách nước này lựa chọn và quản lý dòng người nhập cư: hạn chế những lộ trình chủ yếu nhằm kéo dài thời gian lưu trú, đồng thời hướng nhiều hơn sinh viên và người lao động quốc tế tới những kỹ năng mà nền kinh tế thực sự cần.

Đối với du học sinh Việt Nam, điều này vừa tạo sức ép phải chuẩn bị hồ sơ và kế hoạch học tập bài bản hơn, vừa mở ra cơ hội cho những người có năng lực chuyên môn, định hướng nghề nghiệp rõ ràng và khả năng thích ứng với những thay đổi ngày càng nhanh của chính sách di trú Australia./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục