Bảo đảm đủ điện cho tăng trưởng hai con số: Giải bài toán nguồn cung và truyền tải

Trong giai đoạn 2026-2030, khi tăng trưởng kinh tế đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lượng, các chuyên gia cho rằng cần chủ động tháo gỡ điểm nghẽn và triển khai kịp thời các giải pháp đồng bộ.
Nhân viên EVN bảo dưỡng các thiết bị điện. (Ảnh: EVN)

Để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030, ngành điện cần bổ sung gần 90.000 MW nguồn điện mới, đồng thời huy động khoảng 830.000 tỷ đồng vốn đầu tư.

Trong bối cảnh phụ tải tăng nhanh, đặc biệt tại miền Bắc, việc tháo gỡ vướng mắc thể chế, đẩy nhanh tiến độ các dự án truyền tải trọng điểm và triển khai hiệu quả các giải pháp tiết kiệm điện được xem là điều kiện tiên quyết nhằm giữ vững an ninh năng lượng quốc gia.

Thông tin trên được đưa ra tại tọa đàm với chủ đề “Bảo đảm đủ điện cho tăng trưởng hai con số” do Báo Công Thương tổ chức ngày 27/8.

Áp lực lớn từ phụ tải đỉnh

Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, giai đoạn 2026-2030, nhu cầu tiêu thụ điện năng dự báo tăng 10,5-12,9%/năm. Dù hệ số đàn hồi giữa tăng trưởng điện và tăng trưởng GDP đã được cải thiện nhờ các giải pháp tiết kiệm năng lượng, chỉ số này vẫn ở mức 1,1-1,2 lần, đồng nghĩa mỗi phần trăm tăng trưởng GDP đều kéo theo yêu cầu gia tăng tương ứng về nguồn cung điện.

Thực tế vận hành năm 2026 cho thấy áp lực lên hệ thống điện ngày càng lớn. Công suất cực đại toàn hệ thống đã đạt kỷ lục 58.500 MW trong đợt nắng nóng cuối tháng 6/2026. Riêng miền Bắc đạt 30.200 MW, với tốc độ tăng trưởng phụ tải đỉnh trên 14,4%. Theo Công ty Vận hành hệ thống điện và Thị trường điện quốc gia (NSMO), đến năm 2030, công suất đỉnh toàn quốc có thể tiệm cận 100.000-110.000 MW, gần gấp đôi hiện nay.

Ông Nguyễn Quốc Trung, Phó Tổng giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Vận hành hệ thống điện và Thị trường điện Quốc gia (NSMO) cho biết miền Bắc là khu vực chịu áp lực cung ứng điện lớn nhất do nguồn phát nội tại triển khai chậm, trong khi các đường dây truyền tải 500kV liên miền đã gần tới giới hạn vận hành. Đặc biệt, phụ tải miền Bắc nhạy cảm với nhiệt độ, đỉnh tiêu thụ thường rơi vào khung 21-23 giờ, thời điểm điện mặt trời không còn phát điện.

Bên cạnh áp lực phụ tải, tiến độ các dự án nguồn điện lớn cũng đang là thách thức. Để đáp ứng mục tiêu quy hoạch, tổng công suất lắp đặt toàn hệ thống đến năm 2030 cần đạt 180.000-220.000 MW, tức phải bổ sung gần 90.000 MW nguồn điện mới cùng hệ thống lưới truyền tải đồng bộ.

Sự phát triển mạnh của điện gió, điện Mặt Trời cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác vận hành. Do các nguồn năng lượng tái tạo không có quán tính tự nhiên như nhiệt điện, thủy điện, tỷ trọng năng lượng tái tạo tăng cao khiến hệ thống cần nâng cao năng lực dự báo, điều độ và đầu tư các hệ thống giám sát hiện đại để bảo đảm ổn định lưới điện.

Tọa đàm "Bảo đảm đủ điện cho tăng trưởng hai con số". (Ảnh: Báo Công Thương)

Cần đồng bộ thể chế, hạ tầng và thị trường

Để tháo gỡ điểm nghẽn, Bộ Công Thương cùng các Bộ, ngành đang đẩy nhanh điều chỉnh, cập nhật Quy hoạch điện VIII, ưu tiên các dự án có tính khả thi cao đồng thời tháo gỡ thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, lựa chọn chủ đầu tư đối với các dự án lưới điện truyền tải.

Ông Bùi Quốc Hùng, Phó Cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công Thương) cho biết Bộ Công Thương đang rà soát, điều chỉnh cơ cấu nguồn điện giữa các vùng miền, đẩy nhanh ban hành khung giá phát điện cho năng lượng tái tạo năm 2026 và hoàn thiện cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA), nhằm tạo hành lang pháp lý minh bạch, thu hút nguồn lực xã hội đầu tư vào ngành điện.

Với vai trò nòng cốt, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã xây dựng kế hoạch đầu tư giai đoạn 2026-2030 với tổng vốn khoảng 830.000 tỷ đồng. Theo ông Trịnh Quang Ninh, Phó trưởng Ban Kế hoạch EVN, tập đoàn sẽ tập trung hoàn thành 15 dự án nguồn điện trọng điểm với tổng công suất hơn 6.000 MW, gồm Nhiệt điện Quảng Trạch 1, LNG Quảng Trạch 2, các dự án thủy điện mở rộng Trị An, Tuyên Quang, Se San 3, Se San 4 và Thủy điện tích năng Bác Ái.

EVN cũng dự kiến triển khai 2.000 MW hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS) và đưa vào vận hành gần 300 dự án lưới điện truyền tải 220-500 kV. Đại diện EVN đề xuất cần cơ chế đặc thù để rút ngắn thời gian chuẩn bị đầu tư, xử lý song song các thủ tục đất đai, quy hoạch, môi trường; đồng thời đẩy nhanh giải phóng mặt bằng tại địa phương.

Chuyên gia năng lượng Hà Đăng Sơn, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và Tăng trưởng xanh cho rằng cần tháo gỡ vướng mắc thể chế để tạo sự thống nhất trong thực thi tại các địa phương. Cùng với đó, cần phát huy các nguồn điện phân tán, đẩy mạnh tiết kiệm năng lượng và ứng dụng công nghệ lưu trữ điện nhằm giảm hệ số đàn hồi năng lượng.

Theo các chuyên gia, bên cạnh phát triển nguồn và lưới điện, quản lý phía cầu và tiết kiệm điện là giải pháp ngắn hạn có hiệu quả tức thì. Việc khuyến khích điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu kết hợp lưu trữ; điều chỉnh biểu giá giờ cao điểm sát thực tế vận hành; thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ sẽ góp phần giảm áp lực cho hệ thống điện quốc gia, bảo đảm an ninh năng lượng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số./.

(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục