Làm chủ không gian để trở thành quốc gia biển mạnh (Bài 1)

Bước chuyển tư duy và động lực mới để xây dựng quốc gia biển mạnh

Không gian biển Việt Nam còn sở hữu nhiều nguồn lực có giá trị như thủy sản, đa dạng sinh học, dầu khí, băng cháy, khoáng sản rắn, năng lượng tái tạo, nguyên liệu sinh học biển, hóa chất từ nước biển.
Hàng hóa xuất nhập khẩu tại Tân Cảng Sài Gòn. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)

Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia.

Tinh thần này đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV vào sáng 29/7: “Phát triển kinh tế biển phải gắn bảo vệ hệ sinh thái, nâng cao đời sống nhân dân, giữ vững chủ quyền và phát triển đất nước. Kinh tế biển chỉ là một thành tố trong mục tiêu xây dựng Quốc gia biển mạnh."

Bám sát tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW, Thông tấn xã Việt Nam thực hiện loạt bài "Làm chủ không gian để trở thành quốc gia biển mạnh" phân tích bước chuyển từ chính sách vĩ mô đến những mô hình đột phá tại địa phương. Đồng thời qua góc nhìn của chuyên gia về nguồn lực tài chính xanh cho doanh nghiệp, cùng động lực bứt phá từ các đô thị biển - cực tăng trưởng mới, loạt bài viết mở ra những vấn đề để hiện thực hóa mục tiêu cân bằng giữa phát triển kinh tế, bảo tồn sinh thái và giữ vững chủ quyền đại dương để trở thành quốc gia biển mạnh.

Bài 1: Bước chuyển tư duy và động lực mới

Việt Nam là một quốc gia biển với diện tích biển lớn gấp khoảng 3 lần diện tích đất liền, đường bờ biển dài hơn 3.260 km cùng hệ thống vịnh, cửa sông, đầm phá phong phú. Không gian biển Việt Nam còn sở hữu nhiều nguồn lực có giá trị như thủy sản, đa dạng sinh học, dầu khí, băng cháy, khoáng sản rắn, năng lượng tái tạo, nguyên liệu sinh học biển, hóa chất từ nước biển, carbon xanh và các dịch vụ hệ sinh thái.

Cùng với đó là hệ thống cảng biển, vận tải biển, du lịch biển, đô thị ven biển và nhiều ngành kinh tế biển mới đang mở ra. Những tiềm năng này cho thấy biển không chỉ là không gian khai thác tài nguyên mà còn là không gian phát triển chiến lược của đất nước trong dài hạn.

Bước chuyển tư duy và tạo đột phá về khoa học-công nghệ

Sau 8 năm triển khai Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, kinh tế biển đã có những đóng góp nhất định cho phát triển kinh tế-xã hội, đồng thời góp phần bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển. Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Những hạn chế trong cách thức tổ chức thực hiện, sự phức tạp của tình hình Biển Đông, tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai và dịch bệnh đã đặt ra yêu cầu phải có cách tiếp cận mới.

Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh tại hội nghị vào sáng 29/7, Nghị quyết số 20-NQ/TW thể hiện tầm nhìn chiến lược với những tư duy mới và đột phá về biển. Tư duy xuyên suốt là chuyển mạnh từ phát triển kinh tế biển sang xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh; từ khai thác tài nguyên sang quản trị, khai thác hiệu quả không gian biển quốc gia trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Yêu cầu chuyển mạnh từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại; từ phát triển kinh tế biển, ven biển theo từng ngành sang phát triển một quốc gia biển mạnh; từ quản lý phân tán sang quản lý tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia không đơn thuần là sự điều chỉnh về phương thức quản lý mà là sự thay đổi về tư duy phát triển.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (nay là Cục Biển và Hải đảo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường), trong điều kiện mới, phát triển kinh tế biển phải được đặt trong tổng thể quản trị không gian biển, nhằm hài hòa giữa phát triển kinh tế-xã hội với bảo tồn tài nguyên, môi trường; giữa phát triển với bảo vệ chủ quyền, quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn trên biển. Mọi hoạt động phải phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982; đồng thời tăng cường quản lý tổng hợp, phối hợp liên ngành và tiếp cận dựa trên hệ sinh thái.

Cách tiếp cận này đòi hỏi nhìn biển trong mối liên hệ chặt chẽ với đất liền, vùng ven biển, các lưu vực sông, hải đảo và không gian trên không. Phát triển bền vững biển, đảo vì thế không chỉ là bài toán cân bằng giữa kinh tế, xã hội và môi trường mà còn phải gắn với quốc phòng, an ninh và quản trị biển.

Đặc biệt, quản trị không gian biển mở ra góc nhìn rộng hơn đối với các ngành kinh tế biển mới, trong đó có kinh tế biển sâu. Tuy nhiên, việc tiến ra các vùng biển xa, khai thác không gian biển sâu và phát triển các ngành công nghiệp ngoài khơi đòi hỏi nguồn vốn lớn, trình độ nhân lực cao, thiết bị chuyên dụng và khả năng kiểm soát các rủi ro tự nhiên, kỹ thuật. Điện gió ngoài khơi là một ví dụ điển hình khi yêu cầu đồng thời về công nghệ, hạ tầng, vốn và năng lực quản trị. Vì vậy, theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi, muốn tạo đột phá phải “ra biển bằng thể chế và công nghệ."

Phong cảnh tuyệt đẹp của Vịnh Hạ Long thu hút nhiều du khách đến tham quan, khám phá. (Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN)

Giáo sư, Tiến sỹ Mai Trọng Nhuận, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng cạnh tranh chiến lược trên biển, biến đổi khí hậu, chuyển dịch năng lượng và sự phát triển của kinh tế số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức khai thác, sử dụng và quản trị đại dương. Trong bối cảnh đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành động lực cốt lõi để Việt Nam xây dựng quốc gia biển mạnh. Theo đó, khoa học và công nghệ cần được triển khai đồng bộ từ điều tra cơ bản, quan trắc, dự báo đến quản trị, khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường biển. Một trong những hướng ưu tiên là xây dựng hệ thống quan trắc dài hạn, quan trắc thời gian thực và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, mô hình số để nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo và hỗ trợ ra quyết định.

Cùng với đó là phát triển hạ tầng dữ liệu số về biển, hướng tới xây dựng “bản sao số” không gian biển Việt Nam. Khi dữ liệu về tài nguyên, môi trường, hoạt động kinh tế, giao thông, khí tượng-hải văn và các hoạt động trên biển được tích hợp, cập nhật liên tục, cơ quan quản lý có thể có cái nhìn tổng thể hơn về không gian biển, nhận diện sớm xung đột giữa các ngành, lĩnh vực và đưa ra phương án sử dụng không gian hiệu quả.

Một yêu cầu quan trọng khác là làm chủ các công nghệ cốt lõi, công nghệ chiến lược và công nghệ lưỡng dụng; trong đó có công nghệ giám sát, quan trắc tích hợp theo thời gian thực; robot và phương tiện tự hành dưới nước; công nghệ khai thác biển sâu; năng lượng tái tạo ngoài khơi; công nghệ sinh học biển và vật liệu mới. Đây là những lĩnh vực vừa có ý nghĩa kinh tế, vừa gắn với năng lực bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền biển, đảo.

Để tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cần tăng cường liên kết giữa nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ biển, địa phương ven biển và các đối tác trong, ngoài nước. Đồng thời, phải hình thành các doanh nghiệp công nghệ biển đủ năng lực nghiên cứu, phát triển, làm chủ và thương mại hóa công nghệ.

Giáo sư, Tiến sỹ Mai Trọng Nhuận đề xuất khoa học và công nghệ biển cần được thể chế hóa như một trụ cột xuyên suốt trong chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW. Cùng với đó là ban hành các sandbox về thể chế, tài chính và nhân lực; nguồn lực đầu tư dài hạn; cơ chế giám sát độc lập và hệ thống chỉ số minh bạch để tránh “đầu tư dàn trải, phân tán” mà chính Nghị quyết đã lưu ý.

Quy hoạch, thể chế mở đường

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh tại hội nghị vào sáng 29/7: “Chúng ta phải tích cực chuẩn bị các điều kiện để đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, có nền quản trị biển hiện đại, có công nghệ biển tiên tiến."

Theo các chuyên gia, một trong những điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa những định hướng trên là sớm rà soát, điều chỉnh quy hoạch không gian biển quốc gia và phân vùng chức năng biển. Việc xác định rõ khu vực dành cho giao thông hàng hải, cảng biển, năng lượng ngoài khơi, dầu khí, thủy sản, nuôi biển, du lịch, dịch vụ hay bảo tồn… sẽ giúp hạn chế xung đột giữa các ngành, lĩnh vực và người sử dụng không gian biển.

Ông Phùng Đức Tiến, Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam, cho rằng Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, tổng GRDP của các tỉnh, thành phố ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước, tốc độ tăng trưởng GRDP khu vực ven biển trên 11%/năm là một bước chuyển rất lớn. Để đạt được mục tiêu này, cơ cấu kinh tế phải gắn với cơ cấu lao động, đồng thời quy hoạch không gian biển phải đủ rõ để xác định các khu vực phát triển điện gió, thăm dò dầu khí, du lịch, cảng biển, đóng tàu và các hoạt động kinh tế khác.

Theo ông Phùng Đức Tiến, cùng với quy hoạch cần rà soát lại hệ thống hạ tầng phục vụ phát triển năng lượng ngoài khơi, dầu khí, du lịch, đóng tàu, nuôi biển và khai thác thủy sản. Khi không gian phát triển được xác định rõ, doanh nghiệp mới có cơ sở tính toán đầu tư dài hạn, còn cơ quan quản lý có thể chủ động kiểm soát các hoạt động chồng lấn, hạn chế tranh chấp và sử dụng kém hiệu quả nguồn lực biển.

Chế biến cá tra xuất khẩu tại nhà máy của Tập đoàn Sao Mai, tỉnh An Giang. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế biển không thể tách rời yêu cầu phục hồi và bảo vệ hệ sinh thái. Ông Phùng Đức Tiến cho rằng, đối với thủy sản, cần giảm cường lực khai thác, giảm đội tàu, chuyển đổi nghề để vừa bảo vệ nguồn lợi vừa bảo đảm sinh kế cho ngư dân. Cùng với đó là đầu tư cho các khu bảo tồn biển, phát triển mô hình đồng quản lý, kiểm soát ô nhiễm, nước thải và rác thải nhựa, nhất là tại các khu vực ven biển và đô thị hóa nhanh.

Đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện thể chế. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng cho biết, triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW và Chương trình hành động của Chính phủ, Bộ tập trung hoàn thiện dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi); trong đó làm rõ việc giao, cho thuê, sử dụng và khai thác không gian biển; nghĩa vụ tài chính; bảo vệ tài nguyên, môi trường; phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm và giải quyết xung đột trong sử dụng không gian biển.

Bộ cũng rà soát, cập nhật, điều chỉnh Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Các quy hoạch phải có sự liên kết, thống nhất theo hướng rõ không gian cho hàng hải, cảng biển, năng lượng ngoài khơi, khai thác và nuôi trồng thủy sản, du lịch, dịch vụ, bảo tồn; đồng thời kết nối không gian đất liền, vùng biển, hải đảo, vùng ven biển và không gian phát triển mới, bảo đảm đồng bộ với các quy hoạch ngành và yêu cầu phát triển kinh tế biển bền vững.

Từ Nghị quyết số 36-NQ/TW đến Nghị quyết số 20-NQ/TW, tư duy phát triển biển đang chuyển từ khai thác tiềm năng sang quản trị, kiến tạo không gian phát triển; từ dựa vào tài nguyên sang dựa vào tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây là nền tảng để Việt Nam không chỉ phát huy lợi thế từ biển, mà từng bước làm chủ không gian biển, nâng cao vị thế quốc gia biển mạnh trong giai đoạn mới./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục