Hải Phòng - từ thành phố cảng đến trung tâm nguồn lực của quốc gia biển mạnh

Là đô thị cảng lớn của miền Bắc, Hải Phòng hội tụ cả hệ thống hạ tầng cảng biển, dịch vụ logistics, công nghiệp và một trung tâm đào tạo chuyên sâu về hàng hải, kinh tế biển.

Cảng quốc tế Lạch Huyện, thành phố Hải Phòng. (Ảnh: Hoàng Ngọc/TTXVN)
Cảng quốc tế Lạch Huyện, thành phố Hải Phòng. (Ảnh: Hoàng Ngọc/TTXVN)

Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu mới đối với phát triển kinh tế biển, trong đó hiện đại hóa hạ tầng cảng biển và xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao là những yếu tố có ý nghĩa then chốt.

Đây cũng chính là hai lĩnh vực Hải Phòng đang sở hữu những lợi thế nổi bật, với hệ thống cảng biển ngày càng hiện đại và Trường Đại học Hàng hải Việt Nam - ngôi trường hàng đầu của đất nước trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về lĩnh vực hàng hải và kinh tế biển.

Từ tư duy kinh tế biển đến xây dựng quốc gia biển mạnh

Ngày 28/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng ký ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Đây là bước phát triển mới về tư duy chiến lược, kế thừa những kết quả sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Nếu Nghị quyết 36-NQ/TW nhấn mạnh phát triển bền vững kinh tế biển, Nghị quyết 20-NQ/TW đặt biển trong một không gian phát triển rộng hơn: xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Theo tinh thần Nghị quyết, biển được xác định là không gian phát triển chiến lược, là nền tảng quan trọng của sức mạnh tổng hợp quốc gia, đồng thời là cửa ngõ giao lưu quốc tế. Việt Nam hướng tới xây dựng nền quản trị biển hiện đại, kinh tế biển phát triển hiệu quả, khoa học và công nghệ biển tiên tiến, môi trường biển bền vững, quốc phòng-an ninh được bảo đảm và hội nhập quốc tế thực chất, hiệu quả.

Đặc biệt, Nghị quyết xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực chính cho phát triển quốc gia biển mạnh. Đây là điểm mở ra yêu cầu rất cụ thể: muốn vươn ra biển lớn, Việt Nam không chỉ cần những cảng biển lớn hơn, hiện đại hơn mà còn cần đội ngũ nhân lực đủ trình độ để vận hành, quản trị và làm chủ những công nghệ mới của kinh tế biển.

Trong bức tranh đó, Hải Phòng có những lợi thế đặc biệt.

Là đô thị cảng lớn của miền Bắc, Hải Phòng hội tụ cả hệ thống hạ tầng cảng biển, dịch vụ logistics, công nghiệp và một trung tâm đào tạo chuyên sâu về hàng hải, kinh tế biển. Hai yếu tố này tạo thành một hệ sinh thái khá đặc biệt: cảng biển tạo ra nhu cầu và môi trường thực tiễn; cơ sở đào tạo cung cấp nguồn nhân lực, tri thức và công nghệ phục vụ sự phát triển của cảng biển và kinh tế biển.

Cảng Hải Phòng: bước tiến ra biển lớn

Theo thông tin của Công ty Cổ phần Cảng Hải Phòng, Cảng Hải Phòng bắt đầu hình thành từ năm 1857. Năm 1874, thực dân Pháp xây dựng Cảng Hải Phòng quy mô lớn với 6 nhà kho, gọi là Bến Sáu Kho và nơi đây thành quân cảng, thương cảng phục vụ khai thác thuộc địa.

Việc khai thác cảng biển không chỉ góp phần giúp Hải Phòng thời điểm đó phát triển về kinh tế, dân số mà còn ghi những dấu mốc đặc biệt trong quá trình hình thành, phát triển thành phố.

Công nhân Cảng Hải Phòng là những là lực lượng nòng cốt xây dựng cách mạng và là những “hạt giống đỏ” của Đảng bộ thành phố Hải Phòng do đồng chí Nguyễn Đức Cảnh làm Bí thư.

Những giai đoạn cách mạng tiếp theo, Cảng Hải Phòng vừa là nơi giao thương quốc tế, vừa là nơi vận chuyển hàng hóa quan trọng, chi viện cho miền Nam ruột thịt, cho nhân dân Cuba anh em.

ttxvn-cang-hai-phong.jpg
Bốc xếp hàng tại Cảng Hải Phòng những năm đầu 1970. (Ảnh: Bảo Hanh/TTXVN)

Giai đoạn phát triển mới, Cảng Hải Phòng giữ vững vị thế trụ cột, viết tên thành phố Hải Phòng trên bản đồ hàng hải quốc tế.

Theo Chỉ số hiệu suất cảng container (CPPI) 2025 do Ngân hàng Thế giới và S&P Global Market Intelligence công bố tháng 6/2026, cụm cảng Hải Phòng xếp thứ 13 trong số các cảng container có hiệu suất khai thác tốt nhất thế giới, tăng 17 bậc so với năm 2024.

Còn theo bảng xếp hạng của Tạp chí hàng hải Lloyd's List (Vương quốc Anh), Cảng Hải Phòng đứng thứ 29 trong Top 100 cảng container có sản lượng thông qua lớn nhất thế giới năm 2025.

Những thành tích trên có đóng góp quan trọng của Công ty Cổ phần Cảng Hải Phòng, đặc biệt trong định hướng xây dựng cảng thông minh, hiện đại, xanh và bền vững. Hiện bến cảng nước sâu số 3, số 4 của Công ty Cổ phần Cảng Hải Phòng nằm trong khu vực bến cảng nước sâu Lạch Huyện có năng lực đón 1,35-1,5 triệu TEU/năm và là một trong những cảng nước sâu hiện đại đưa hàng hóa Việt Nam đến thẳng bờ Tây Hoa Kỳ.

Với vị thế, vai trò quan trọng như vậy, Nghị quyết 20-NQ/TW là cơ sở chính trị quan trọng để Đảng bộ Công ty Cổ phần Cảng Hải Phòng tiếp tục xây dựng những định hướng phát triển doanh nghiệp.

Nhưng trong bối cảnh Nghị quyết 20-NQ/TW đặt ra yêu cầu xây dựng quốc gia biển mạnh, câu chuyện của Cảng Hải Phòng không chỉ dừng ở quy mô hàng hóa hay số lượng bến cảng.

Đó còn là câu chuyện về năng lực cạnh tranh của một cảng biển Việt Nam trong mạng lưới hàng hải quốc tế.

Muốn cạnh tranh với các cảng lớn trong khu vực, cảng biển phải được vận hành thông minh hơn, xanh hơn, nhanh hơn và có khả năng kết nối tốt hơn với các phương thức vận tải khác.

Thực tế, Cảng Hải Phòng đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, tăng cường kết nối dữ liệu với các cơ quan quản lý, triển khai các nền tảng Big Data, Smart TOS, ERP, IoT và chuẩn bị xây dựng hệ sinh thái Smart Port.

Cùng với đó, nhiều dự án mở rộng tiếp tục được triển khai nhằm gia tăng năng lực khai thác và phát triển logistics, trong đó có dự án Cảng tổng hợp Bạch Đằng với 3 cầu tàu. Dự án này sẽ nâng cao năng lực thông quan hàng hóa, đồng thời từng bước hình thành hệ sinh thái dịch vụ cảng biển hiện đại.

Nguồn nhân lực - nền móng để làm chủ biển

Một cảng biển hiện đại cần những con tàu lớn, thiết bị hiện đại, hệ thống logistics đồng bộ. Nhưng phía sau tất cả những yếu tố đó vẫn là con người.

Đó cũng là lý do Nghị quyết 20-NQ/TW đặt nguồn nhân lực chất lượng cao cùng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào nhóm động lực chính để phát triển quốc gia biển mạnh.

Với Hải Phòng, nói đến đào tạo nhân lực hàng hải và kinh tế biển không thể không nhắc tới Trường Đại học Hàng hải Việt Nam.

Trường Đại học Hàng hải Việt Nam thành lập năm 1956. Đây là ngôi trường hàng đầu của đất nước trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt về lĩnh vực hàng hải và kinh tế biển.

Nhiều sỹ quan hàng hải, thuyền viên được đào tạo đang làm việc trên các đội tàu biển hiện đại trong nước và thế giới. Trường cũng là đơn vị cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trên địa bàn thành phố Hải Phòng.

Tháng 12/2000, Nhà trường đã góp phần không nhỏ đưa Việt Nam trở thành một trong 73 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tiên trên thế giới được công nhận vào Danh sách Trắng (White List) của Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) và được công nhận là thành viên đầy đủ thứ 44 của Hiệp hội các Trường Đại học Hàng hải Quốc tế (IAMU) từ tháng 8/2004.

Đặc biệt, ngày 5/9/2025, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1901/QĐ-TTg phê duyệt Đề án xây dựng Trường Đại học Hàng hải Việt Nam là trường trọng điểm quốc gia về đào tạo, nghiên cứu và phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đến năm 2030 đưa Trường Đại học Hàng hải Việt Nam trở thành một trong top 5 trung tâm đào tạo nguồn nhân lực hàng hải, kinh tế biển chất lượng cao hàng đầu ASEAN; đến năm 2035 phấn đấu thuộc tốp 3 ASEAN, với một số ngành, lĩnh vực lọt vào top 10 châu Á; định hướng đến năm 2045 tiến tới ngang tầm các trường đại học hàng hải của các nước phát triển trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương và trên thế giới.

vnp-dai-hoc-hang-hai.jpg
Trường Đại học Hàng hải Việt Nam thành lập năm 1956. Đây là ngôi trường hàng đầu của đất nước trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt về lĩnh vực hàng hải và kinh tế biển. (Nguồn: Vietnam+)

Hiện Trường Đại học Hàng hải Việt Nam có 51 giáo sư và phó giáo sư, 238 tiến sỹ cùng hàng trăm thuyền trưởng, máy trưởng, sỹ quan hàng hải dạn dày kinh nghiệm trên các đội tàu biển uy tín trên thế giới, các chuyên gia trong lĩnh vực khoa học hàng hải, tự động điều khiển, đóng tàu, công trình biển và thềm lục địa, môi trường biển, quản lý vận tải biển và logistics…

Các thầy, cô giáo và sinh viên Nhà trường đạt nhiều thành tựu nổi bật trong nghiên cứu quốc tế và các cuộc thi uy tín thế giới.

Nổi bật là ngày 30/7/2026, tại Vòng Chung kết Thế giới Cuộc thi Vô địch Tin học Văn phòng Thế giới MOS (Microsoft Office Specialist) World Championship 2026 được tổ chức tại thành phố Anaheim, bang California, Hoa Kỳ, sinh viên Nguyễn Mai Chi, Viện Đào tạo Quốc tế, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, đã xuất sắc giành Huy chương Vàng và trở thành Nhà vô địch Thế giới nội dung Microsoft Excel 365 Apps.

Trong các năm từ 2020 đến nay, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam đã liên tục có 9 quán quân quốc gia tham gia Đội tuyển Việt Nam tham dự Vòng thi Thế giới tại Mỹ và giành được 1 huy chương Vàng (2026), 2 huy chương Bạc (các năm 2020 và 2023).

Thành tích rực rỡ này là niềm tự hào của Trường Đại học Hàng hải Việt Nam và Đội tuyển MOS Việt Nam, khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và năng lực hội nhập của sinh viên Việt Nam trên đấu trường quốc tế, đồng thời là nền tảng quan trọng để Nhà trường triển khai Nghị quyết 20-NQ/TW hiệu quả.

Nếu cảng biển là cánh cửa đưa Việt Nam ra thế giới, thì nguồn nhân lực chất lượng cao chính là lực lượng giúp Việt Nam làm chủ cánh cửa ấy.

Với Hải Phòng, kết nối hai lợi thế này không chỉ là câu chuyện phát triển của một thành phố cảng. Đó còn có thể trở thành một đóng góp thiết thực vào mục tiêu lớn hơn mà Nghị quyết 20-NQ/TW đặt ra: xây dựng Việt Nam trở thành một quốc gia biển mạnh, có nền kinh tế biển hiện đại, năng lực cạnh tranh cao./.

(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục

Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Đức Hiển. (Ảnh: Sỹ Tuyên/TTXVN)

Khơi thông nguồn lực cho tăng trưởng

Nghị quyết số 19 cùng với các nghị quyết của Đảng được ban hành trong những giai đoạn trước, đã chỉ ra khá rõ những điểm nghẽn đối với quá trình phát triển của Việt Nam.

Ông Jinchang Lai, Trưởng nhóm Phát triển Hạ tầng Tài chính Khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Ngân hàng Thế giới, trình bày tham luận tại Hội nghị. (Ảnh: Quốc Dũng/TTXVN)

Chuyên gia “hiến kế” thu hút nguồn vốn quốc tế

Các khuyến nghị của chuyên gia góp phần hoàn thiện chính sách pháp lý, thúc đẩy phát triển các sản phẩm tài chính, nâng cao năng lực hội nhập và hình thành hệ sinh thái tài chính quốc tế tại Đà Nẵng.

Khẩn trương vận chuyển cá cơm đi tiêu thụ. (Ảnh: Tường Vi/TTXVN)

Ngư dân Quảng Trị được mùa biển

Tại Bến cá Bắc Cửa Việt, xã Cửa Việt, không khí mua bán diễn ra nhộn nhịp ngay từ sớm; nhiều tàu khai thác cá cơm lần lượt cập bến sau chuyến biển, mang theo những khoang tàu đầy ắp cá tươi.

Vốn FDI thực hiện 8 tháng năm 2026 lập đỉnh 5 năm

Vốn FDI thực hiện 8 tháng năm 2026 lập đỉnh 5 năm

Vốn FDI thực hiện 8 tháng năm 2026 đạt 17,25 tỷ USD, cao nhất 5 năm qua nhờ động lực từ công nghiệp chế biến, chế tạo; hoạt động đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài cũng ghi nhận mức tăng mạnh.

Ảnh minh họa.

Kinh nghiệm thực tiễn từ các quốc gia

Nhìn rộng hơn, kinh nghiệm của Trung Quốc, Ấn Độ hay Hàn Quốc cho thấy không có một mô hình tăng trưởng duy nhất có thể trở thành khuôn mẫu chung cho các nước đang phát triển.