Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam mở ra bước chuyển chiến lược: từ tăng trưởng dựa nhiều vào nguồn lực truyền thống sang mô hình phát triển dựa trên năng suất, tri thức, khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo; từ quản lý sang kiến tạo, từ khai thác nguồn lực sẵn có sang khơi thông và tạo dựng những động lực phát triển mới.
Để làm rõ hơn về mô hình phát triển trong giai đoạn mới, đồng thời làm rõ các đột phá cần thiết để hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, TTXVN thực hiện 5 bài viết về “Mô hình phát triển cho kỷ nguyên mới.”
Nghị quyết 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ mô hình phát triển.
Để làm rõ hơn điểm khác biệt căn bản của mô hình phát triển mới so với mô hình đã giúp Việt Nam đạt được những thành tựu trong 40 năm qua, phóng viên TTXVN đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Đức Hiển - Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương.
- Nghị quyết số 19 đặt ra yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ mô hình quản trị, phương thức phân bổ nguồn lực và các động lực tăng trưởng. Theo ông, đâu là những điểm nghẽn lớn nhất cần được tháo gỡ trong giai đoạn phát triển mới?
Phó Trưởng Ban Nguyễn Đức Hiển: Nghị quyết số 19 cùng với các nghị quyết của Đảng được ban hành trong những giai đoạn trước, đã chỉ ra khá rõ những điểm nghẽn đối với quá trình phát triển của Việt Nam.
Trước hết là điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách, đặc biệt liên quan đến hoàn thiện cơ chế quản lý, thể chế kinh tế thị trường và xác định rõ vai trò, mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội.
Tại Nghị quyết 19, Ban Chấp hành Trung ương xác định phải chuyển đổi sang mô hình quản trị quốc gia dân chủ, hiện đại, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả; chuyển từ cơ chế quản lý hành chính là chủ yếu sang kiến tạo phát triển, từ tiền kiểm sang hậu kiểm.
Đồng thời, quản trị quốc gia phải được vận hành đồng bộ theo mô hình chính quyền 3 cấp từ Trung ương đến chính quyền địa phương 2 cấp. Toàn bộ quá trình từ xây dựng chủ trương, chính sách đến tổ chức thực hiện phải có thước đo, chỉ tiêu đánh giá cụ thể; trong đó, hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp và tác động thực tế của chính sách phải là thước đo cuối cùng.
Đây là những thay đổi rất quan trọng về tư duy quản trị, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách và tạo môi trường thuận lợi hơn cho phát triển.
Thêm nữa, trong suốt 40 năm qua, cơ chế huy động và phân bổ nguồn lực của Việt Nam ngày càng được hoàn thiện; trong đó thị trường ngày càng đóng vai trò mạnh mẽ hơn trong phân bổ nguồn lực. Tuy nhiên, Nghị quyết 19 cũng đặt ra các yêu cầu về huy động, phân bố nguồn lực.
Cụ thể, cần chuyển từ tư duy phân bổ nguồn lực sang kiến tạo, phát triển nguồn lực, tập trung vào những lĩnh vực có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa lớn như hạ tầng chiến lược, giáo dục, y tế và các lĩnh vực có tác động thúc đẩy nhiều ngành, lĩnh vực khác.
Đặc biệt, nguồn lực đầu tư của Nhà nước cần được sử dụng như nguồn vốn mồi, tập trung vào những công trình, hạ tầng quan trọng để kéo theo và thúc đẩy nguồn lực đầu tư của khu vực tư nhân.
Cùng với đó, phải nâng cao hiệu quả đầu tư công. Hiện hệ số sử dụng vốn đầu tư ICOR của Việt Nam còn khá cao, khoảng 6,4. Một yêu cầu quan trọng là phải từng bước giảm hệ số này xuống khoảng 4-4,5, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và chất lượng tăng trưởng.
Điểm nghẽn nữa liên quan đến vấn đề khoa học, công nghệ và sáng tạo. Trong 40 năm qua, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã có những bước phát triển đáng kể.
Gần đây, với việc ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cùng với những tư tưởng mới trong Nghị quyết 19 về đổi mới mô hình phát triển, chúng ta có thêm cơ sở để thúc đẩy mạnh mẽ hơn các lĩnh vực này.
Điểm quan trọng là phải coi khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển dựa trên trí tuệ nhân tạo là một trong những động lực chính của mô hình phát triển Việt Nam.
Điều đó đòi hỏi không chỉ đầu tư vào công nghệ mà còn phải tạo ra môi trường thể chế phù hợp để công nghệ, đổi mới sáng tạo và các mô hình kinh tế mới có thể nhanh chóng được thử nghiệm, ứng dụng và nhân rộng.
Trong Nghị quyết 19, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát được xác định là một phương thức quản trị mới, tạo điều kiện để các mô hình kinh tế mới được thử nghiệm nhanh chóng, qua đó thúc đẩy những động lực tăng trưởng mới.
Một điểm nghẽn tiếp theo cần được khơi thông mạnh mẽ hơn chính là những vấn đề liên quan đến phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Xuyên suốt 40 năm qua, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả về phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, yêu cầu của giai đoạn mới cao hơn. Nghị quyết 19 nhấn mạnh việc xây dựng hạ tầng năng lực tri thức quốc gia.
Điều đó có nghĩa là không chỉ tập trung đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, mà còn phải phát triển đồng bộ các thành tố của hạ tầng tri thức, qua đó chuyển hóa tri thức, kỹ năng, năng lực sáng tạo thành nguồn lực trực tiếp cho tăng trưởng.
- Nghị quyết 19 đặt ra mục tiêu đến năm 2045, đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Theo ông, mô hình phát triển mới của Việt Nam cần đáp ứng ra sao để đạt mục tiêu đó?
Phó Trưởng Ban Nguyễn Đức Hiển: Nghị quyết 19 về đổi mới mô hình phát triển xác định mục tiêu đến năm 2045 và các mục tiêu, tầm nhìn cho những giai đoạn trước đó. Nội hàm cốt lõi của mô hình phát triển mới là một mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, bền vững và hội nhập.
Mô hình này phải được vận hành trên nền tảng một nền kinh tế ngày càng dựa nhiều hơn vào các khu vực, lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng cao, đặc biệt là những lĩnh vực kinh tế mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Cùng với mục tiêu kinh tế, mô hình phát triển mới cũng đặt yêu cầu xây dựng một xã hội kỷ cương, văn minh, trật tự, hài hòa, phát triển; hướng tới một xã hội hạnh phúc; trong đó chất lượng cuộc sống và đời sống của người dân ngày càng được nâng cao.
Để cụ thể hóa Nghị quyết 19, Bộ Chính trị đã ban hành Chương trình số 33-CTr/TW với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, phản ánh các mục tiêu trong các giai đoạn đến năm 2030, 2035 và tầm nhìn đến năm 2045.
Các mục tiêu được cụ thể hóa trên nhiều lĩnh vực, từ kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường đến quốc phòng, an ninh và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Nếu phải lựa chọn những đột phá có tính quyết định nhất để Việt Nam chuyển thành công sang mô hình phát triển mới trong 20 năm tới, ông sẽ lựa chọn những đột phá nào?
Phó Trưởng Ban Nguyễn Đức Hiển: Nghị quyết 19 và Chương trình số 33 của Bộ Chính trị đã đề ra các nhiệm vụ, giải pháp rất cụ thể.Theo tôi, nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất đó chính là phải tạo đột phá về thể chế và quản trị quốc gia và điều này cũng đã thể hiện trong quan điểm nêu trong Nghị quyết 19. Đây là khâu đột phá nhất để tạo ra năng lực cạnh tranh mới cho nền kinh tế Việt Nam.
Toàn bộ các khâu quản trị, thực thi, tổ chức thực hiện các nghị quyết, các chiến lược, chính sách phải triển khai bằng các kết quả rõ ràng; phân công đảm bảo “6 rõ” giữa các cấp, các ngành; xác định các điểm đột phá để chuyển dịch, sử dụng hiệu quả các nguồn lực phân bổ cho các ngành, lĩnh vực.
Thứ hai, đột phá trong huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Nguồn lực luôn có giới hạn, vì vậy vấn đề không chỉ là huy động được nhiều nguồn lực hơn mà quan trọng là sử dụng nguồn lực tốt hơn, hiệu quả hơn.
Cần thực hiện nghiêm yêu cầu hạch toán hiệu quả đối với các nguồn lực, kể cả nguồn lực đầu tư công; đồng thời xử lý dứt điểm các nguồn lực đang tồn đọng trong nền kinh tế, như các dự án tồn đọng, yếu kém, chậm tiến độ, để tránh lãng phí và những hệ quả tiêu cực.
Mặt khác, phải tiếp tục khơi thông các nguồn lực xã hội, tạo môi trường thuận lợi để thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn lực trong nước, đồng thời huy động nguồn lực quốc tế phục vụ phát triển.
Thứ ba, đột phá về khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI). Đây chính là động lực quan trọng của mô hình tăng trưởng mới. Chúng ta cần làm sao để khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đóng góp ngày càng lớn hơn vào tăng trưởng, năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Cùng với ba đột phá trên, phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao, là yếu tố xuyên suốt, vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa tạo nền tảng cho phát triển dài hạn.
Việt Nam cần tập trung đào tạo nhân lực cho những ngành, lĩnh vực được xác định là ưu tiên trong giai đoạn tới.
Tóm lại, nếu trước đây chúng ta chủ yếu tập trung vào tháo gỡ, xử lý các rào cản và điểm nghẽn, thì trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu cao hơn là phải tạo dựng một mô hình để kiến tạo hệ sinh thái và các động lực phát triển mới.
- Trân trọng cảm ơn ông./.
Mời độc giả đón đọc chùm bài tại đây:
Đổi mới mô hình phát triển: Bước xoay trục chiến lược
Khi dư địa tăng trưởng theo chiều rộng dựa trên vốn, lao động giá rẻ và tài nguyên đang dần chạm trần, Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển mở ra bước chuyển chiến lược.
Đổi mới không thể đi bằng “đường cũ” vốn dựa vào tài nguyên "giá rẻ"
Trước yêu cầu bứt phá trong giai đoạn mới, hầu hết các chuyên gia cho rằng cần đổi mới mô hình phát triển; đổi mới mô hình quản trị và đặc biệt không thể tách rời phát triển với các vấn đề xã hội.
Kinh nghiệm thực tiễn từ các quốc gia
Nhìn rộng hơn, kinh nghiệm của Trung Quốc, Ấn Độ hay Hàn Quốc cho thấy không có một mô hình tăng trưởng duy nhất có thể trở thành khuôn mẫu chung cho các nước đang phát triển.