Mô hình phát triển cho kỷ nguyên mới hướng tới là nước phát triển vào năm 2045

Kinh nghiệm thực tiễn từ các quốc gia

Nhìn rộng hơn, kinh nghiệm của Trung Quốc, Ấn Độ hay Hàn Quốc cho thấy không có một mô hình tăng trưởng duy nhất có thể trở thành khuôn mẫu chung cho các nước đang phát triển.

Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Trong nhiều thập niên, các nền kinh tế lớn ở châu Á đã tạo ra những câu chuyện tăng trưởng đáng chú ý nhờ lựa chọn những động lực phát triển khác nhau, hoặc công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu hoặc dựa vào dịch vụ.

Nhưng khi nền kinh tế toàn cầu thay đổi, những động lực từng tạo nên thành công cũng bắt đầu bộc lộ giới hạn, đặc biệt là trong bối cảnh tự động hóa và trí tuệ nhân tạo (AI) đang đặt ra những thách thức trong việc lan tỏa những lợi ích của tăng trưởng.

Trung Quốc dịch chuyển sang thúc đẩy tiêu dùng

Trung Quốc đang phát tín hiệu cho thấy sẽ chuyển trọng tâm kinh tế sang thúc đẩy tiêu dùng trong giai đoạn 5 năm tới, trong bối cảnh mô hình tăng trưởng dựa vào đầu tư và xuất khẩu vốn đã giúp nền kinh tế quy mô 19.000 tỷ USD của nước này tăng trưởng suốt nhiều thập kỷ đang bộc lộ những giới hạn rõ rệt.

Trung Quốc giữ được tỷ trọng sản xuất công nghiệp ở mức khoảng 25% GDP trong những năm gần đây, nhưng tự động hóa đang làm suy yếu mối liên hệ truyền thống giữa tăng trưởng sản lượng công nghiệp và việc tạo ra việc làm. Đó là lực lượng lao động ngày càng tập trung vào các dịch vụ năng suất thấp, trong khi tăng trưởng năng suất lại nằm ở những ngành sử dụng ít lao động. Khi Trung Quốc tiến gần hơn tới nhóm nước thu nhập cao, thực tế này trở thành hạn chế lớn đối với mô hình tăng trưởng.

ttxvn-trung-quoc-ai.jpg
Robot làm việc tại phòng thí nghiệm hóa học của Đại học Khoa học và Công nghệ Trung Quốc ở tỉnh An Huy. (Ảnh: THX/TTXVN)

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho rằng tăng trưởng Trung Quốc đang chịu sức ép từ nhiều yếu tố. Đó là năng suất giảm tốc, lực lượng lao động suy giảm, phụ thuộc lớn vào đầu tư, tiêu dùng nội địa còn thấp. IMF đề xuất một mô hình tăng trưởng mới dựa trên tăng năng suất và tái cân bằng sang tiêu dùng, từ đó tạo ra tăng trưởng “chất lượng cao,” cân bằng và bao trùm.

IMF cho rằng Trung Quốc cần chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào đầu tư, công nghiệp và hỗ trợ có mục tiêu của Nhà nước sang mô hình trong đó tiêu dùng, dịch vụ, doanh nghiệp tư nhân và lực lượng thị trường đóng vai trò lớn hơn.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhận định “không gian đầu tư đang thu hẹp, xuất khẩu chậm lại và các mất cân đối trong nền kinh tế ngày càng sâu sắc,” buộc nước này phải tái cơ cấu mô hình tăng trưởng.

Trong các khuyến nghị cho Kế hoạch 5 năm 2026-2030, Trung Quốc cam kết “tăng tỷ trọng chi tiêu cho dịch vụ công trong ngân sách nhà nước nhằm nâng cao năng lực tiêu dùng của người dân,” đồng thời đẩy mạnh các chính sách hướng đến người tiêu dùng, cải thiện phân phối thu nhập và tăng tỷ lệ chi ngân sách cho an sinh xã hội.

Các cố vấn chính sách cho biết Trung Quốc có thể đặt mục tiêu nâng tỷ trọng tiêu dùng hộ gia đình thêm khoảng 5 điểm phần trăm trong 5 năm tới, dù chưa rõ liệu con số cụ thể này có được đưa vào kế hoạch chính thức hay không. Hiện nay, tiêu dùng hộ gia đình tại Trung Quốc chiếm khoảng 40% GDP, thấp hơn đáng kể so với mức gần 70% tại Mỹ.

Bên cạnh việc nhấn mạnh tiêu dùng, Trung Quốc vẫn tái khẳng định cam kết duy trì một tỷ trọng hợp lý của sản xuất chế tạo trong nền kinh tế, đặc biệt là các ngành công nghệ cao như hàng không vũ trụ, năng lượng mới và vật liệu tiên tiến.

Chip bán dẫn mở đường cho Hàn Quốc

Câu chuyện về những giới hạn của mô hình tăng trưởng truyền thống cũng là điều mà Hàn Quốc đang phải đối mặt. Từ một nước nghèo, Hàn Quốc đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế hàng đầu thế giới, nhưng mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu của nước này cũng đã đi đến giới hạn. Quốc gia Đông Bắc Á này đứng trước yêu cầu phải tái định hình toàn diện chiến lược kinh tế để đối phó với những biến động của thời đại.

Điểm nghẽn mang tính cấu trúc đầu tiên khiến Hàn Quốc phải thay đổi mô hình tăng trưởng là sự mất cân bằng giữa xuất khẩu và tiêu dùng nội địa. Thêm vào đó, sự dịch chuyển của thương mại toàn cầu, với chủ nghĩa bảo hộ gia tăng, sự đứt gãy chuỗi cung ứng và xu hướng phân mảnh địa chính trị buộc Hàn Quốc không thể tiếp tục dựa vào lối mòn xuất khẩu truyền thống mà phải có chiến lược kinh tế đối ngoại thích ứng hơn.

ban-dan-han-quoc-0108-3532.jpg
Kim ngạch xuất khẩu chất bán dẫn của Hàn Quốc trong tháng Bảy vừa qua tăng vọt 50,4% so với cùng kỳ năm trước. (Nguồn: koreaherald)

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cho rằng mô hình tăng trưởng định hướng xuất khẩu của Hàn Quốc cần được nâng cấp. Những hướng chính là tăng năng suất khu vực dịch vụ, tăng cạnh tranh trong thị trường nội địa, giảm sự phụ thuộc quá lớn vào xuất khẩu, phát triển tiêu dùng nội địa thành một động lực tăng trưởng.

Trong bối cảnh đó, Hàn Quốc đã đổi mới chiến lược kinh tế đối ngoại và chuỗi giá trị. Thay vì tách biệt xuất khẩu và đầu tư ra nước ngoài, chiến lược mới gắn kết chặt chẽ hai yếu tố này. Đồng thời, quốc gia này định vị mình là trung tâm R&D toàn cầu cho các ngành công nghiệp tiên tiến như chất bán dẫn, pin, AI, robot và công nghệ sinh học.

Những nỗ lực cải cách và nâng cấp mô hình tăng trưởng đang mang lại những kết quả rõ rệt cho nền kinh tế Hàn Quốc. Nhờ làn sóng đầu tư vào AI và nhu cầu bùng nổ đối với chip máy tính tiên tiến, xuất khẩu công nghệ đã phục hồi mạnh mẽ.

Trong báo cáo công bố tháng 6/2026, OECD đã điều chỉnh tăng dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2026 của Hàn Quốc lên mức 2,6% (tăng mạnh so với mức 1,7% dự báo hồi tháng 3), ghi nhận đây là mức điều chỉnh tăng lớn nhất trong số các nền kinh tế G20 đợt công bố đó.

Công nghệ nền tảng đưa Ấn Độ tiến xa

Khác với Trung Quốc và Hàn Quốc, Ấn Độ lại đối mặt với vấn đề theo chiều ngược lại, khi dựa nhiều vào dịch vụ và công nghệ. Dịch vụ tạo ra khoảng một nửa GDP của Ấn Độ, chủ yếu nhờ lợi thế cạnh tranh quốc tế trong công nghệ thông tin và phần mềm.

Sau những nỗ lực thực hiện các chính sách có chủ đích của chính phủ nước này, kết quả đạt được lại cho thấy những giới hạn đáng chú ý.Các ngành dịch vụ tri thức của Ấn Độ phát triển rất nhanh, nhưng có quy mô quá nhỏ để đảm nhiệm vai trò mà sản xuất công nghiệp từng giữ trong quá trình công nghiệp hóa của các nước đi trước.

Hạn chế trong mô hình tăng trưởng của Ấn Độ vì thế nằm ở sự phân mảnh của các dịch vụ giá trị cao: xuất khẩu công nghệ có thể tăng trưởng ấn tượng nhưng ít tạo ra hiệu ứng lan tỏa đối với việc làm, thu nhập và năng suất của toàn bộ nền kinh tế.

ttxvn-kinh-te-an-do.jpg
Tàu chở hàng hóa cập cảng Vizhinjam ở Thiruvananthapuram, Ấn Độ. (Ảnh: ANI/TTXVN)

Mặc dù chính phủ thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ, tỷ trọng của ngành sản xuất trong GDP của Ấn Độ vẫn giảm xuống khoảng 13-14% trong những năm gần đây. Gần một nửa lực lượng lao động tiếp tục làm việc trong nông nghiệp. Nếu thiếu chính sách chủ động xây dựng mối liên kết với nền kinh tế trong nước, các ngành dịch vụ năng suất cao có thể trở thành những khu vực biệt lập, tạo ra kim ngạch xuất khẩu lớn nhưng không thúc đẩy đáng kể các ngành khác.

Một báo cáo của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) chỉ ra rằng Ấn Độ đang bước vào một thời điểm bản lề, nơi các điều kiện nền tảng hội tụ đủ để tạo ra một bước nhảy vọt về chất trong mô hình tăng trưởng.

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu phân mảnh và chuỗi cung ứng tái cấu trúc, một nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 7-8% như Ấn Độ không chỉ là ngoại lệ mà còn là tín hiệu cho thấy dư địa nâng cấp vẫn còn rất lớn.

Điểm đáng chú ý không nằm ở tốc độ tăng trưởng, mà ở cấu trúc nền kinh tế. Kinh tế Ấn Độ đang chuyển dần từ mô hình dựa vào chi phí thấp sang mô hình dựa trên công nghệ và năng suất. Sự phát triển nhanh của cơ sở hạ tầng công cộng kỹ thuật số đã tạo ra một nền tảng hiếm có: Vừa mở rộng tiếp cận dịch vụ, vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Khi tận dụng tốt các công nghệ nền tảng AI, Internet vạn vật và công nghệ 5G, nền tảng này có thể trở thành “bệ phóng” cho một chu kỳ tăng trưởng mới, sâu hơn và bền vững hơn.

Nhìn rộng hơn, kinh nghiệm của Trung Quốc, Ấn Độ hay Hàn Quốc cho thấy không có một mô hình tăng trưởng duy nhất có thể trở thành khuôn mẫu chung cho các nước đang phát triển.

Sản xuất, dịch vụ hay xuất khẩu đều có thể tạo động lực tăng trưởng, nhưng mỗi mô hình đều có những giới hạn riêng khi nền kinh tế thay đổi. Thách thức lớn nhất không phải là lựa chọn một mô hình có sẵn, mà là xây dựng năng lực để thích ứng với những thay đổi về công nghệ, việc làm, năng suất và thương mại toàn cầu./.

Mời độc giả theo dõi chùm bài tại đây:

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục

Vốn FDI thực hiện 8 tháng năm 2026 lập đỉnh 5 năm

Vốn FDI thực hiện 8 tháng năm 2026 lập đỉnh 5 năm

Vốn FDI thực hiện 8 tháng năm 2026 đạt 17,25 tỷ USD, cao nhất 5 năm qua nhờ động lực từ công nghiệp chế biến, chế tạo; hoạt động đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài cũng ghi nhận mức tăng mạnh.

Danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu, xuất khẩu

Danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu, xuất khẩu

Danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu gồm vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ, trang thiết bị kỹ thuật quân sự, phụ tùng chuyên dùng quân sự; thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng; thiết bị y tế đã qua sử dụng...