Ảnh chỉ có tính minh họa. (Ảnh: Huy Hùng/TTXVN)

Ngày 12/11, tại Hà Nội, Bộ Giao thông Vận tải đã tổ chức cuộc họp báo cáo cuối kỳ nghiên cứu tiền khả thi dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc-Nam.

Tại cuộc họp, liên danh tư vấn TEDI-TRICC-TEDISOUTH và nhóm nghiên cứu của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) đã đưa ra nhiều phân tích về sự cần thiết cũng như mức độ cấp bách của dự án này.

Theo báo cáo tiền khả thi, tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc-Nam sẽ có tổng mức đầu tư khoảng 58,71 tỷ USD.

Điểm đầu của dự án vẫn nằm tại ga Hà Nội và trong tương lai, khi nhu cầu tăng cao, tuyến đường sắt đô thị số 1 không đủ năng lực đáp ứng để khai thác thêm tàu tốc độ cao thì tàu tốc độ cao dừng tại ga Ngọc Hồi. Điểm cuối của dự án nằm ở ga Thủ Thiêm, Thành phố Hồ Chí Minh, được kết nối với mạng lưới đường sắt đô thị thành phố.

Về hướng tuyến và quy mô, sau khi tiến hành rà soát hướng tuyến, vị trí các depot (kho chứa), trạm bảo dưỡng và làm việc với 20 tỉnh, thành phố có dự án đi qua, đơn vị tư vấn đề xuất dự án có tổng chiều dài 1.545km (cầu chiếm khoảng 60%, hầm chiếm khoảng 10%, đường chiếm khoảng 30%), đường đôi - khổ 1.435mm - điện khí hóa; bao gồm 24 ga và ba ga quy hoạch tiềm năng, năm depot, 42 cơ sở bảo trì hạ tầng.

[Đường sắt tốc độ cao: ‘Con hoang’ bị bỏ rơi suốt 10 năm?]

Giai đoạn đầu của tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc-Nam sẽ khai thác với tốc độ 200 km/h, về lâu dài có thể khai thác với tốc độ tối đa 320 km/h (tốc độ thiết kế là 350 km/h).

Về phương án lựa chọn công nghệ đường sắt tốc độ cao là sử dụng công nghệ động lực đoàn tàu phân tán (EMU) và tín hiệu điều khiển tàu tự động trên nền tảng vô tuyến điện.

Nhu cầu sử dụng đất của Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc-Nam sẽ vào khoảng 7.875ha.

Trong giai đoạn đầu, dự án triển khai đầu tư xây dựng và đưa vào khai thác năm 2030 đối với hai đoạn là Hà Nội-Vinh (dài 282,65km) và Nha Trang-Thành phố Hồ Chí Minh (dài 362,15km).

Giai đoạn 2 (2030-2040 hoặc 2045) đưa vào khai thác đoạn Vinh-Nha Trang để nối thông tuyến. Phương án đầu tư của dự án được đề xuất theo hình thức đầu tư công hoặc hình thức đối tác công-tư (nhà nước đầu tư hạ tầng, nhà đầu tư mua sắm đoàn tàu).

Liên doanh tư vấn cũng đề xuất mô hình quản lý khai thác dưới dạng một công ty đầu tư và quản lý hạ tầng đường sắt tốc độ cao và một công ty vận tải đường sắt tốc độ cao. Các công ty này sẽ đầu tư phương tiện, tổ chức vận hành khai thác và bảo dưỡng hạ tầng, phương tiện và trả phí thuê cơ sở hạ tầng cho công ty đầu tư và quản lý hạ tầng.

Trước đó, vào tháng 7/2018, Bộ Giao thông vận tải đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ dự kiến lộ trình triển khai dự án đường sắt tốc độ cao.

Cụ thể, dự án hoàn thiện báo cáo nghiên cứu tiền khả thi vào tháng 11/2018. Việc tổ chức thẩm định của Hội đồng thẩm định Nhà nước (bao gồm cả thuê tư vấn thẩm tra) kéo dài 5 tháng từ tháng 12/2018 đến tháng 4/2019. Sau đó, dự án sẽ báo cáo các cấp có thẩm quyền (Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị) trong khoảng 2-3 tháng từ tháng 5/2019 đến tháng 7/2019. Bộ Giao thông Vận tải dự kiến hoàn thiện báo cáo nghiên cứu tiền khả thi để trình Chính phủ trong tháng 8/2019, trước khi Quốc hội xem xét thông qua trong tháng 10/2019.

Trường hợp được Quốc hội thông qua, Dự án sẽ triển khai chuẩn bị nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật, giải phóng mặt bằng từ năm 2020-2025 và triển khai xây dựng từ năm 2026, dự kiến đưa vào khai thác đoạn ưu tiên (bao gồm cả đoạn thử nghiệm) năm 2032; tiếp tục triển khai xây dựng các đoạn còn lại từ 2035, phấn đấu hoàn thành toàn tuyến vào năm 2050./.