Bên bãi bồi sông Hồng, nơi đất đai được phù sa bồi đắp qua năm tháng, cây dâu đã gắn với đời sống người dân xã Hồng Lý, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình nay là xã Vạn Xuân, tỉnh Hưng Yên từ nhiều thế hệ.
Từ những luống dâu xanh mướt, người nông dân hái từng nắm lá đưa về nuôi tằm; từ những nong tằm, những kén vàng được tạo ra; rồi qua bàn tay người thợ, kén trở thành những sợi tơ óng ả. Một vòng sản xuất khép kín đã tạo nên nghề truyền thống từng đem lại sinh kế cho hàng nghìn gia đình nơi đây.
Từ bãi phù sa đến những luống dâu xanh
Theo lời kể của các bậc cao niên, nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ ở Vạn Xuân có từ vài trăm năm trước. Không ai còn nhớ chính xác nghề bắt đầu từ thời điểm nào, chỉ biết nhiều gia đình đã nối nghiệp qua hàng chục thế hệ. Đất bãi ven sông Hồng màu mỡ, dễ trồng dâu, lại thuận lợi cho việc canh tác đã tạo cho Vạn Xuân một điều kiện tự nhiên đặc biệt để duy trì nghề.
Đã có thời, màu xanh của cây dâu gần như phủ kín đồng ruộng. Trong giai đoạn 1976-1986, nghề ươm và dệt tơ tằm ở Vạn Xuân phát triển mạnh. Xã có hàng trăm hecta dâu, hàng nghìn gia đình cùng làm nghề. Cứ vài hộ lại liên kết thành một tổ ươm, quay tơ sau khi thu hoạch kén. Những bếp than đỏ lửa ngày đêm, những guồng tơ quay đều và những nong kén nối tiếp nhau tạo nên một nhịp sống đặc trưng của làng nghề.
Cây dâu ở đây chủ yếu là giống lấy lá phục vụ nuôi tằm. Vào khoảng giữa tháng 2 âm lịch là khi vụ lá dâu xuân đầu tiên bắt đầu, với người trồng dâu Vạn Xuân, điều họ quan tâm nhất vẫn là những chiếc lá xanh, sạch để nuôi tằm. Vì thế, người trồng phải giữ cho lá dâu an toàn, bởi chỉ cần nguồn thức ăn có vấn đề, cả lứa tằm có thể bị ảnh hưởng.
Lá dâu phải được hái đúng lúc, lựa những lá phù hợp rồi đưa vào buồng nuôi. Chỉ riêng việc hái và vận chuyển lá đã chiếm rất nhiều thời gian, chưa kể phải theo dõi đàn tằm, dọn vệ sinh, điều chỉnh môi trường và chuẩn bị cho từng giai đoạn phát triển.
“Nghề ăn cơm đứng” và những lứa tằm vàng
Nếu trồng dâu cần sự cần mẫn thì nuôi tằm đòi hỏi người làm nghề phải gần như sống cùng đàn tằm. Người dân Vạn Xuân gọi vui đây là nghề “ăn cơm đứng.” Cách gọi ấy xuất phát từ đặc thù của nghề: đến giờ cho tằm ăn thì dù đang làm việc gì, người nuôi cũng phải gác lại để chăm đàn tằm.
Những ngày tằm ăn rỗi là lúc người nuôi bận rộn nhất. Có thời điểm, trước khi tằm làm kén, người nuôi phải cho ăn tới 15-16 lần mỗi ngày. Tằm là loài rất nhạy cảm với môi trường. Ánh sáng mặt trời, nhiệt độ, độ ẩm và đặc biệt là các loại thuốc bảo vệ thực vật đều có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của chúng. Bởi vậy, các gia đình thường bố trí buồng nuôi riêng, có màn che để hạn chế ánh sáng và giữ nhiệt độ phù hợp.
Người nuôi tằm lâu năm không chỉ dựa vào kinh nghiệm sách vở. Họ nhìn đàn tằm, nhìn lá dâu và biết lúc nào cần tăng thức ăn, lúc nào phải giảm, khi nào tằm có dấu hiệu bất thường. Nghề được truyền từ người này sang người khác bằng chính những công việc hằng ngày như thế.
Ở Vạn Xuân, người dân nuôi cả tằm trắng và tằm vàng. Tằm trắng chủ yếu phục vụ lấy kén, ươm tơ; tằm vàng được nuôi để làm thực phẩm. Mỗi loại có một mục đích riêng, nhưng đều cần sự chăm sóc kỹ lưỡng.
Đến giai đoạn tằm chín, người nuôi phải chuẩn bị khung nứa để tằm làm kén. Đây là thời điểm người làm nghề đặc biệt quan tâm đến thời tiết. Kén cần được khô, thơm, không bị ẩm để khi đưa vào ươm, sợi tơ không bị tan và giữ được màu vàng tự nhiên.
Nắng vì thế có một vị trí rất đặc biệt trong nghề. Người làm tằm không chỉ trông trời để biết ngày mai có mưa hay không mà còn phải căn thời điểm để kén được hong trong điều kiện thích hợp. Một mẻ kén đẹp, vàng óng không chỉ là kết quả của đàn tằm khỏe mà còn là thành quả của kinh nghiệm chăm sóc và sự thuận lợi của thời tiết.
Nồi nước sôi, guồng tơ và giá trị của sợi tơ thủ công
Kén sau khi thu hoạch mới chỉ là điểm bắt đầu của một công đoạn khác không kém phần vất vả: ươm tơ. Kén được cho vào nồi nước nóng, đảo đều để lớp áo kén bong ra. Người thợ phải lần tìm mối tơ, kéo sợi và chập nhiều sợi nhỏ thành một sợi lớn hơn trước khi đưa lên guồng.
Đây là công việc tưởng đơn giản nhưng đòi hỏi đôi tay có kinh nghiệm. Người kéo tơ phải biết giữ cho sợi đều, không bị đứt, đồng thời xử lý nhanh những thay đổi của sợi trong quá trình kéo. Nước nóng, hơi nước và sức nóng từ bếp lửa khiến công việc càng thêm nhọc nhằn.
Với phương thức thủ công, người kéo tơ có thể phải ngâm tay trong nước suốt nhiều giờ. Có khi cả ngày chỉ kéo được khoảng một lạng tơ sống. Sau đó, tơ được đưa ra phơi để đạt độ khô cần thiết trước khi bán hoặc tiếp tục qua các công đoạn dệt.
Những sợi tơ đầu tiên, đẹp và óng nhất, thường được lựa chọn để dệt lụa. Phần sợi cuối của con tằm được tận dụng làm đũi. Đũi có vẻ ngoài thô ráp, không bóng như lụa, nhưng sau khi dệt thành vải và giặt bỏ lớp keo tự nhiên, chất vải trở nên mềm, nhẹ, thoáng và mát. Chính sự khác biệt ấy tạo nên giá trị riêng của đũi.
Nghề tơ tằm vì vậy không để phí nhiều nguyên liệu. Từ con tằm, người thợ tận dụng những phần có thể sử dụng để tạo ra các loại sợi khác nhau. Mỗi loại lại phù hợp với một dòng sản phẩm.
Điều đáng nói là phía sau một sợi tơ tưởng như mảnh mai lại là rất nhiều công sức. Đó là công sức của người trồng dâu chăm từng luống cây, người hái lá, người nuôi tằm, người canh kén, người đứng bên nồi nước nóng và người kéo từng sợi tơ. Nếu thiếu một mắt xích, cả chuỗi nghề đều bị ảnh hưởng.
Giữ nghề giữa những đổi thay
Từ thời kỳ phát triển mạnh, nghề ươm tơ Vạn Xuân đã trải qua không ít biến động, sự thay đổi của thị trường, đầu ra thiếu ổn định và sự phát triển của sợi công nghiệp khiến nhiều hộ không còn đủ điều kiện tiếp tục. Số người theo nghề giảm dần, những tổ ươm tơ từng đông đúc cũng không còn như trước.
Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến chất liệu có nguồn gốc tự nhiên, cảm giác khi sử dụng và câu chuyện phía sau sản phẩm. Đó cũng là cơ hội để nghề tơ tằm truyền thống tìm lại chỗ đứng. Họ tiếp tục trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, vừa làm kế sinh nhai vừa giữ lại một nghề mà cha ông đã truyền qua nhiều thế hệ.
Vạn Xuân là một trong những làng nghề có hộ hiếm hoi vẫn giữ được những tinh hoa của nghề ươm tơ truyền thống và dù trải qua dâu bể của thời cuộc thì nơi đây vẫn còn có những con người vẫn ngày đêm gìn giữ và phát triển nghề truyền thống có từ bao đời của cha ông.
Giữ nghề hôm nay không chỉ là duy trì cách làm cũ mà còn là tìm một hướng đi mới cho sản phẩm và làng nghề. Vạn Xuân có lợi thế khi nằm bên sông Hồng, không quá xa Hà Nội, cảnh quan nông thôn vẫn giữ được nhiều nét đặc trưng. Những ruộng dâu, buồng tằm, nong kén và guồng tơ hoàn toàn có thể trở thành những điểm trải nghiệm đối với du khách yêu thích nông nghiệp và nghề thủ công truyền thống.
Người đến làng nghề có thể xem từng công đoạn, từ hái lá dâu, tìm hiểu đời sống con tằm đến xem kén được ươm thành tơ. Đặc biệt, những bó tơ vàng phơi đầy sân dưới nắng tạo nên một hình ảnh rất riêng mà không cần bất kỳ sự sắp đặt nào.
Giữ một nghề truyền thống chưa bao giờ là việc dễ. Nhất là với nghề trồng dâu, nuôi tằm, bởi mỗi công đoạn đều phụ thuộc vào thời tiết, thị trường và công sức của con người. Nhưng chính sự cầu kỳ ấy làm nên giá trị của nghề.
Từ những luống dâu xanh bên bãi sông Hồng, lá dâu lại được hái về; những con tằm lại lớn lên, nhả tơ và đóng kén. Khi nắng lên, những nong kén vàng lại ánh lên dưới sân, rồi qua đôi bàn tay người thợ, sợi tơ lại được kéo ra.
Nếu có thêm đầu ra ổn định, sản phẩm phù hợp thị trường và một hướng khai thác du lịch hợp lý, những luống dâu Vạn Xuân hoàn toàn có thể tiếp tục xanh, để nghề tằm tơ lại trở về một thời vàng son mà trở thành sinh kế bền vững của người dân bên bãi sông Hồng./.