Tuyên Quang đang đưa phong trào “Bình dân học vụ số” đi vào chiều sâu bằng những việc gần gũi: hướng dẫn người dân sử dụng điện thoại thông minh, nộp hồ sơ trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, nhận diện thủ đoạn lừa đảo và khai thác nền tảng số phục vụ sản xuất, kinh doanh.
Từ những buổi hướng dẫn tại nhà văn hóa thôn đến việc đến từng hộ gia đình, phương châm “cầm tay chỉ việc” đang giúp công nghệ trở nên dễ hiểu, dễ sử dụng, từng bước thu hẹp khoảng cách số ngay từ cơ sở.
Đưa kỹ năng số đến từng người dân
Đối với nhiều người trẻ, việc cài đặt ứng dụng, quét mã QR hay tạo một tài khoản trực tuyến chỉ mất vài phút nhưng với người cao tuổi, người ít có điều kiện tiếp xúc với công nghệ hoặc đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, mỗi thao tác ấy có thể là một trở ngại.
Không ít người có điện thoại thông minh nhưng chủ yếu nghe, gọi; ngại cung cấp thông tin cá nhân; không nhớ mật khẩu hoặc sợ bấm nhầm. Bởi vậy, phổ cập kỹ năng số không thể chỉ dừng ở tuyên truyền về lợi ích mà phải hướng dẫn trực tiếp, để người dân tự thao tác trên chính thiết bị của mình.
Tại nhiều địa phương của Tuyên Quang, thành viên Tổ công nghệ số cộng đồng đã trở thành những “giáo viên số” gần dân. Nội dung hướng dẫn bắt đầu từ các kỹ năng cơ bản như kết nối mạng, cài đặt và sử dụng ứng dụng, tạo tài khoản, tra cứu thông tin; sau đó mở rộng sang dịch vụ công trực tuyến, định danh điện tử, thanh toán số, mua bán trên nền tảng thương mại điện tử và bảo vệ thông tin cá nhân.
Người hướng dẫn làm mẫu một lần, người dân thực hành nhiều lần; thao tác chưa đúng được chỉ lại ngay. Cách làm giản dị ấy giúp xóa tâm lý e ngại và tạo sự tự tin cần thiết để người dân sử dụng công nghệ trong đời sống hàng ngày.
Ở phường Minh Xuân, Tổ công nghệ số cộng đồng hỗ trợ người dân truy cập nền tảng “Bình dân học vụ số”, tạo tài khoản, lựa chọn khóa học và thực hiện bài kiểm tra.
Thành viên của tổ đồng thời hướng dẫn sử dụng dịch vụ công, thanh toán không dùng tiền mặt và bảo vệ thông tin cá nhân. Việc học vì thế gắn với những kỹ năng có thể sử dụng ngay.
Tại xã Yên Phú, chuyển đổi số được gắn với đổi mới phương thức quản trị và nâng cao chất lượng phục vụ. Trung tâm Phục vụ hành chính công công khai thủ tục bằng mã QR, đẩy mạnh số hóa hồ sơ, thanh toán trực tuyến và thanh toán không dùng tiền mặt.
Năm 2025, 100% hồ sơ thủ tục hành chính của xã được giải quyết đúng và trước hạn; tỷ lệ số hóa hồ sơ, mức độ hài lòng của người dân đều đạt 100%; chỉ số cải cách hành chính xếp thứ 2 trong 124 xã, phường của tỉnh.
Theo ông Nguyễn Văn Ước, Bí thư Đảng ủy xã Yên Phú, địa phương xác định phải lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ và lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo hiệu quả hoạt động của chính quyền.
Vì vậy, cùng với đầu tư hạ tầng, xã chú trọng hỗ trợ những người còn hạn chế về kỹ năng số, giúp họ tiếp cận dịch vụ công trực tuyến thuận lợi hơn.
Nhiều mô hình phù hợp với từng địa bàn cũng tạo thêm sức lan tỏa. Xã Đồng Tâm có “Ngày thứ 5 số”, “Mỗi thôn một điểm hỗ trợ kỹ năng số”, “Gia đình ba thế hệ thạo số”; Pờ Ly Ngài, Lùng Tám, Hồng Thái triển khai “Chợ phiên số - Nông thôn số”; phường Hà Giang 2 xây dựng “Mỗi đoàn viên - Một trợ lý số”… Điểm chung là đưa việc học đến nơi người dân sinh sống, lao động, mua bán và lấy nhu cầu thực tế làm nội dung hướng dẫn.
Sau một năm triển khai phong trào, nhiều người dân đã sử dụng điện thoại thông minh để tiếp cận thông tin, làm thủ tục trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt và sử dụng các nền tảng phục vụ học tập, sản xuất, kinh doanh.
Tuy nhiên, kết quả giữa các địa phương chưa đồng đều; kỹ năng số của một bộ phận người dân còn hạn chế; tỷ lệ sử dụng dịch vụ số ở một số nơi chưa cao.
Hoạt động của một số Tổ công nghệ số cộng đồng còn khó khăn, chưa phát huy hết nguồn lực và hiệu quả. Thực tế này cho thấy phổ cập kỹ năng số là quá trình lâu dài, cần sự kiên trì chứ không thể hoàn thành qua một đợt phát động.
Để mỗi người có một “trợ lý số” ở cơ sở
Toàn tỉnh hiện duy trì 3.926 Tổ công nghệ số cộng đồng với hơn 20.250 thành viên, phủ khắp 100% xã, phường, thôn và tổ dân phố. Đây là mạng lưới rộng, trực tiếp kết nối chủ trương chuyển đổi số với từng cộng đồng dân cư.
Trong 7 tháng năm 2026, Sở Khoa học và Công nghệ đã hoàn thành kế hoạch tập huấn cho cơ sở với 22 lớp tại 53 xã, phường, thu hút 1.808 cán bộ, công chức, viên chức; đồng thời hướng dẫn, hỗ trợ 2.833 thành viên Tổ công nghệ số cộng đồng thôn thuộc 23 xã, phường. Tổng số người được tập huấn trong hai nhóm đạt 4.641 người.
Theo ông Phan Đăng Đông, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tuyên Quang, mục tiêu quan trọng của việc bồi dưỡng là hình thành lực lượng có khả năng hướng dẫn lại cho người dân.
Khi người am hiểu công nghệ có mặt ngay tại thôn, tổ dân phố, những vướng mắc được xử lý kịp thời, tạo điều kiện để chuyển đổi số đi vào thực chất, gắn với chất lượng phục vụ, kinh tế số và xã hội số.
Tuyên Quang đã ban hành Nghị quyết số 10/2026/NQ-HĐND ngày 22/4/2026 quy định chính sách hỗ trợ Tổ công nghệ số cộng đồng giai đoạn 2026-2030.
Chính sách tạo điều kiện duy trì hoạt động thường xuyên, động viên lực lượng tham gia và nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ tại cơ sở. Việc hỗ trợ các tổ cũng cho thấy chuyển đổi số không chỉ là câu chuyện đầu tư thiết bị, phần mềm, mà cần đầu tư cho con người - những người trực tiếp giúp cộng đồng tiếp cận và làm chủ công nghệ.
Theo Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Tuyên Quang Đỗ Hùng Đức, để phong trào “Bình dân học vụ số” đạt hiệu quả thực chất, các địa phương cần tăng cường hướng dẫn thực hành, “cầm tay chỉ việc” cho người dân; tập trung vào sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, bảo đảm an toàn thông tin, phòng, chống lừa đảo trên không gian mạng và khai thác các nền tảng số phục vụ học tập, sản xuất, kinh doanh.
Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh cũng yêu cầu các địa phương định kỳ rà soát, lập danh sách người chưa có kỹ năng số, đặc biệt là người cao tuổi, người khuyết tật, hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số; trên cơ sở đó phân công hướng dẫn, hỗ trợ cụ thể. Yêu cầu này chuyển cách làm từ hỗ trợ đại trà sang đúng người, đúng nhu cầu.
Một người cao tuổi có thể cần được chỉ cách nhận diện cuộc gọi giả mạo; hộ kinh doanh cần biết tạo mã QR và quảng bá sản phẩm; người dân ở xa trung tâm cần được hướng dẫn nộp hồ sơ trực tuyến; thanh niên có thể tiếp cận kỹ năng kinh doanh và sáng tạo nội dung số.
An toàn số là phần bắt buộc của phổ cập kỹ năng. Người dân cần được nhắc không cung cấp mã OTP, không bấm đường dẫn lạ, kiểm tra tài khoản nhận tiền và tìm sự hỗ trợ khi gặp tình huống bất thường. Biết tự bảo vệ mình cũng là một thước đo của năng lực số.
Bên cạnh kỹ năng, hạ tầng là điều kiện không thể thiếu. Toàn tỉnh còn 57 thôn lõm sóng di động, trong đó 22 thôn chưa có điện lưới quốc gia. Doanh nghiệp viễn thông được yêu cầu từng bước xóa vùng lõm sóng, cung cấp dịch vụ với chi phí phù hợp và hỗ trợ kỹ thuật. Thiếu kết nối ổn định, kiến thức được phổ cập khó trở thành thói quen sử dụng thường xuyên.
Để phong trào bền vững, kết quả cần được đo bằng thay đổi thực tế: người dân có tự nộp hồ sơ, thanh toán an toàn, tra cứu thông tin và sử dụng nền tảng phục vụ sản xuất hay không. Tuyên Quang đang hướng tới xây dựng bộ tiêu chí đánh giá để theo dõi, biểu dương và nhân rộng cách làm hiệu quả.
Phổ cập kỹ năng số suy cho cùng là giúp mỗi người có thêm công cụ để giải quyết công việc và cải thiện cuộc sống.
Khi một người dân có thể tự hoàn thành thủ tục trên điện thoại, một tiểu thương biết nhận thanh toán qua mã QR, một hộ sản xuất biết giới thiệu nông sản trên mạng, hay một người cao tuổi biết tránh đường dẫn lừa đảo, chuyển đổi số đã tạo ra giá trị cụ thể.
Từ những lần kiên nhẫn “cầm tay chỉ việc”, Tuyên Quang đang hình thành những công dân số tự tin hơn, đồng thời xây dựng nền tảng để chính quyền số, kinh tế số và xã hội số phát triển bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau./.
Hướng tới hình thành “hồ sơ an sinh số” cho mỗi người dân
Theo dự thảo Nghị định quy định Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội, mỗi người sẽ có 1 “hồ sơ an sinh số” duy nhất, giúp việc quản lý, thực hiện chính sách minh bạch, chính xác và thuận tiện hơn.