“Nhà nước không làm thay doanh nghiệp, nhưng phải tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp yên tâm đầu tư và các nhà sáng tạo phát huy được hết tài năng của mình.”
Ý kiến của đại biểu Bùi Thị Kim Tuyên (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ) bên hành lang Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI với phóng viên Báo Điện tử Vietnamplus chạm đúng một trong những vấn đề then chốt của phát triển công nghiệp văn hóa: làm thế nào để khơi thông nguồn lực xã hội, biến tiềm năng sáng tạo thành những sản phẩm có giá trị và chỗ đứng trên thị trường?
Đây cũng là yêu cầu đặt ra khi Luật Phát triển công nghiệp văn hóa lần đầu tiên xác lập văn hóa là một ngành công nghiệp với chuỗi giá trị liên thông từ sáng tạo, sản xuất đến phân phối, tiêu dùng và tái đầu tư.
Gỡ rào cản để doanh nghiệp đầu tư
Đại biểu Bùi Thị Kim Tuyên đánh giá những nội dung của bộ Luật là bước tiến quan trọng trong tư duy phát triển, giúp khắc phục những khoảng trống giữa các khâu trong quá trình hình thành sản phẩm văn hóa.
Cần tháo gỡ điểm nghẽn về tài sản trí tuệ, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tiếp cận tài sản trí tuệ một cách minh bạch.
“Đây là bước tiến rất quan trọng trong tư duy phát triển công nghiệp văn hóa. Bởi văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh tạo ra những giá trị văn hóa và sức mạnh mềm của quốc gia. Tôi cho rằng việc tiếp cận công nghiệp văn hóa như một chuỗi giá trị liên thông từ sáng tạo đến sản xuất, phân phối và tiêu dùng sẽ giúp khắc phục được những lỗ hổng trong các khâu khi liên kết tạo ra sản phẩm,” đại biểu nhấn mạnh.
Theo đại biểu Bùi Thị Kim Tuyên, những đổi mới trong dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo cơ sở chuyển hóa các giá trị văn hóa thành sản phẩm kinh tế, nhất là trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Việt Nam có nhiều tiềm năng từ di sản, nghệ thuật, lịch sử và các giá trị truyền thống, song để khai thác hiệu quả cần có sự tham gia đầu tư của doanh nghiệp.
Đây cũng là lĩnh vực có những đặc thù riêng: mức độ rủi ro cao, thời gian thu hồi vốn dài. Vì vậy, nếu thiếu cơ chế tài chính phù hợp và môi trường đầu tư thuận lợi, doanh nghiệp sẽ khó mạnh dạn tham gia, còn các nhà sáng tạo cũng khó phát huy hết năng lực.
Do đó, đại biểu đề xuất dự thảo luật cần tập trung vào ba nhóm cơ chế. Trước hết là đổi mới cơ chế tài chính và huy động vốn, nghiên cứu các mô hình quỹ đầu tư hoặc đồng đầu tư giữa Nhà nước và tư nhân, có chính sách hỗ trợ đặc biệt đối với các dự án sáng tạo. Việc hỗ trợ cần bảo đảm minh bạch, có trọng tâm và giải quyết được những khó khăn thực tế của dự án.
Nhóm giải pháp thứ hai là tháo gỡ điểm nghẽn về tài sản trí tuệ, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn tài sản này một cách thuận lợi, minh bạch. Cùng với đó, cần phát triển thị trường và xây dựng môi trường thuận lợi để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, nhà sáng tạo có điều kiện phát huy tài năng, đưa các giá trị văn hóa thành sản phẩm có giá trị kinh tế.
“Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng trong phát triển kinh tế, văn hóa sẽ là động lực để phát triển kinh tế. Đồng thời, việc tăng trưởng cũng phải gắn liền với việc giữ gìn bản sắc văn hóa và phát huy những giá trị văn hóa của Việt Nam,” đại biểu khẳng định.
Đô thị di sản: Không đánh đổi để tăng trưởng
Góp ý dự thảo Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027, ở góc độ phát triển đô thị di sản, đại biểu Nguyễn Thị Sửu (Đoàn ĐBQH thành phố Huế) cho rằng đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong bối cảnh mới. Phát triển đô thị di sản là trách nhiệm chung nhằm gìn giữ tài sản văn hóa quốc gia và trao truyền cho các thế hệ mai sau.
Theo đại biểu, mỗi đô thị có bản sắc riêng, do đó cần cách tiếp cận phù hợp với đặc điểm từng địa phương, trên cơ sở những nguyên tắc thống nhất: không đánh đổi di sản để lấy tăng trưởng, bảo tồn phải gắn với đời sống và sinh kế của người dân.
Việt Nam có nhiều đô thị hình thành và phát triển trên nền tảng di sản văn hóa, lịch sử, kiến trúc và cảnh quan. Đây là những tài sản quý giá, đồng thời là nguồn lực nội sinh và lợi thế cạnh tranh có thể đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội.
Phát triển đô thị di sản không phải là lựa chọn giữa bảo tồn và phát triển, mà phải xác lập mô hình trong đó bảo tồn là nền tảng, di sản là nguồn lực, văn hóa là động lực, người dân là chủ thể...
Song, bài toán đặt ra là làm thế nào hiện đại hóa đô thị, thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao đời sống người dân mà vẫn giữ được tính nguyên gốc của di sản, bản sắc văn hóa, cảnh quan và không gian sinh sống của cộng đồng.
“Phát triển đô thị di sản không phải là lựa chọn giữa bảo tồn và phát triển, mà phải xác lập mô hình trong đó bảo tồn là nền tảng, di sản là nguồn lực, văn hóa là động lực, người dân là chủ thể và chất lượng sống là mục tiêu,” đại biểu Nguyễn Thị Sửu nêu quan điểm.
Đối với dự thảo Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027, đại biểu ghi nhận Điều 3 đã đề cập nhiều định hướng quan trọng như hoàn thiện thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển kết cấu hạ tầng, khoa học và công nghệ, công nghiệp văn hóa, bảo tồn di sản và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng cần tập trung vào việc kết nối, tích hợp các nhiệm vụ này theo cách tiếp cận thống nhất về quản trị và phát triển đô thị di sản.
Từ thực tiễn địa phương, nhất là thành phố Huế, đại biểu đề xuất ba nhóm giải pháp: đổi mới tư duy trong quy hoạch và quản trị đô thị di sản; chuyển hóa giá trị di sản thành động lực tăng trưởng mới; đổi mới việc huy động, sử dụng nguồn lực, bảo đảm người dân được tham gia và thụ hưởng.
Cụ thể, đại biểu kiến nghị bổ sung vào cuối mục 3.7 Điều 3 của dự thảo Nghị quyết nội dung: “Phát triển đô thị di sản gắn bảo tồn với phát triển; tích hợp bảo tồn trong quy hoạch, quản lý đô thị; kiểm soát xây dựng, sức chịu tải. Gắn kinh tế di sản, công nghiệp văn hóa, du lịch với hạ tầng, bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu, chuyển đổi số; bảo đảm cộng đồng tham gia, thụ hưởng, giữ gìn sinh kế; sử dụng hiệu quả nguồn lực bảo tồn, phát huy di sản.”
Cùng với việc bổ sung định hướng, đại biểu đề nghị Chính phủ giao các bộ, ngành phối hợp với địa phương cụ thể hóa nhiệm vụ trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; xác định rõ tiến độ, nguồn lực, trách nhiệm và tiêu chí đánh giá. Việc triển khai cần phù hợp với đặc thù từng địa phương, tránh hình thức và chồng chéo.
Từ những yêu cầu đó, muốn văn hóa trở thành nguồn lực phát triển, trước hết phải tạo được cơ chế để các giá trị văn hóa đi vào đời sống kinh tế mà không đánh mất bản sắc. Điều này đòi hỏi chính sách đủ sức khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, mở rộng thị trường cho các sản phẩm sáng tạo; đồng thời đổi mới quy hoạch, quản trị đô thị di sản, gắn bảo tồn với sinh kế và quyền thụ hưởng của cộng đồng.
Khi Nhà nước làm tốt vai trò kiến tạo, doanh nghiệp “tròn vai” đầu tư, nhà sáng tạo được phát huy đúng sở trường, năng lực và người dân trở thành chủ thể gìn giữ, thụ hưởng giá trị di sản, văn hóa mới có thể tạo ra giá trị kinh tế lâu dài và bền vững.
Đây cũng chính là những nền tảng để công nghiệp văn hóa và kinh tế di sản đóng góp thực chất hơn cho tăng trưởng, thay vì chỉ dừng lại ở tiềm năng hay những định hướng chính sách vĩ mô./.
Di sản trước cơn lốc đô thị hóa: Hà Nội học được gì từ Pháp, Nhật Bản trước khi “quá muộn”?
Từ kinh nghiệm nghiên cứu di sản của Pháp đến cách người Nhật gắn bảo tồn với cộng đồng và sinh kế, Hà Nội có thêm kinh nghiệm để gìn giữ ký ức đô thị, giúp di sản trở thành nguồn lực cho tương lai.