Tây Ninh đang đứng trước cơ hội lớn để chuyển những lợi thế về vị trí địa kinh tế, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, cửa khẩu và kết nối vùng thành động lực tăng trưởng mới.
Tuy nhiên, để hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, tỉnh không chỉ cần đưa nhiều hàng hóa hơn ra thị trường quốc tế mà quan trọng hơn là nâng vị trí của doanh nghiệp và sản phẩm trong chuỗi, tạo ra và giữ lại nhiều giá trị gia tăng hơn trên địa bàn.
Đây cũng là định hướng đang được cụ thể hóa trong quá trình xây dựng kế hoạch “Thúc đẩy hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu,” hướng đến mục tiêu góp phần đưa tăng trưởng GRDP đạt mức hai con số bền vững.
Từ lợi thế sẵn có đến giá trị gia tăng cao hơn
Theo Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Tây Ninh Phạm Tấn Hòa, trong bối cảnh toàn cầu hóa và xu thế dịch chuyển chuỗi cung ứng diễn ra mạnh mẽ, chủ động tham gia và khẳng định vị thế trong mạng lưới sản xuất quốc tế là yêu cầu tất yếu đối với sự phát triển của tỉnh.
Sau hợp nhất, Tây Ninh có không gian phát triển với nhiều lợi thế đặc biệt: vị trí cửa ngõ kết nối hành lang kinh tế xuyên Á với Campuchia và các nước ASEAN; khả năng kết nối với Thành phố Hồ Chí Minh, vùng Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và hệ thống cảng biển; hệ sinh thái công nghiệp, nông nghiệp tập trung; cùng nhiều ngành sản xuất, chế biến có quy mô lớn.
Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của tỉnh đạt khoảng 31,4 tỷ USD; trong đó, xuất khẩu 17,8 tỷ USD; riêng 7 tháng của năm 2026 tổng kim ngạch đạt gần 21 tỷ USD, xuất khẩu đạt hơn 11,6 tỷ USD. Hàng hóa của doanh nghiệp trên địa bàn đã có mặt tại khoảng 150 quốc gia, vùng lãnh thổ. Đây là nền tảng quan trọng để Tây Ninh tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và thương mại quốc tế.
Tuy nhiên, quy mô xuất khẩu lớn chưa đồng nghĩa với vị trí cao trong chuỗi giá trị. Theo ông Hòa, nhiều ngành công nghiệp chủ lực của tỉnh vẫn phụ thuộc vào gia công, lắp ráp thô, tỷ lệ nội địa hóa chưa cao; doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn chế về chuyển đổi xanh, tiêu chuẩn quốc tế và khả năng thích ứng với các rào cản kỹ thuật phi thuế quan.
Liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp FDI, các tập đoàn đa quốc gia chưa bền vững; việc khai thác các ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do cũng chưa tương xứng với tiềm năng.
Từ thực tế đó, bài toán đặt ra không đơn thuần là tăng kim ngạch xuất khẩu, mà phải “nâng cấp vị trí của Tây Ninh trong chuỗi giá trị.” Doanh nghiệp cần từng bước chuyển từ gia công, sơ chế sang chế biến sâu; từ cung ứng đơn lẻ sang tham gia các mạng lưới cung ứng; từ sản xuất theo đơn đặt hàng sang làm chủ công nghệ, tiêu chuẩn, thương hiệu và thị trường.
Phó Giám đốc Sở Công Thương Tây Ninh Châu Thị Lệ cho biết, tỉnh đang xây dựng kế hoạch thúc đẩy hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu theo hướng cụ thể hóa các chủ trương về hội nhập quốc tế, khai thác hiệu quả các FTA để mở rộng thị trường, thu hút đầu tư có chất lượng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Một trong những định hướng được đặt ra là rà soát, lựa chọn từ 5-7 chuỗi giá trị có lợi thế và tiềm năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị trong nước, khu vực và toàn cầu.
Việc lựa chọn sẽ dựa trên quy mô nguồn hàng, năng lực doanh nghiệp, mức độ liên kết, tiềm năng thị trường, khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và giá trị gia tăng có thể tạo ra trên địa bàn.
Tỉnh dự kiến khảo sát, lập bản đồ từng chuỗi để xác định doanh nghiệp đầu tàu, nhà cung ứng, vùng nguyên liệu, năng lực sản xuất - chế biến - logistics, tỷ lệ sử dụng đầu vào trong nước, mức độ đáp ứng quy tắc xuất xứ, thị trường mục tiêu, những mắt xích còn thiếu và nhu cầu đổi mới công nghệ.
Trên cơ sở đó mới xác định các dự án cần thu hút đầu tư, nhu cầu hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo nhân lực, xúc tiến thương mại và trách nhiệm của từng cơ quan.
Theo Tiến sỹ Hoàng Trường, Viện Nghiên cứu chính sách, chiến lược Công Thương, để đánh giá mức độ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, Tây Ninh không nên chỉ nhìn vào quy mô xuất khẩu mà cần xác định doanh nghiệp, sản phẩm của tỉnh đang tham gia ở công đoạn nào và tạo ra bao nhiêu giá trị gia tăng. Nếu vẫn chủ yếu ở các khâu gia công, lắp ráp thì dù kim ngạch tăng, phần giá trị giữ lại trên địa bàn vẫn hạn chế.
Ông Trường cho rằng, Tây Ninh cần tiếp cận theo hướng phát triển chuỗi giá trị; trong đó, doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm; đồng thời, chú trọng đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, khai thác hiệu quả các FTA để mở rộng thị trường và nâng giá trị gia tăng.
Từ những lợi thế hiện có, nên nghiên cứu các nhóm chuỗi liên quan đến nông sản, thực phẩm và tinh bột mỳ; cao su và sản phẩm từ cao su; nông nghiệp công nghệ cao; dệt may và sản phẩm thời trang; công nghiệp hỗ trợ, logistics; logistics và thương mại xuyên biên giới để tiếp tục đánh giá, lựa chọn phù hợp.
Kết nối nguồn hàng, hạ tầng và thị trường
Nếu lựa chọn đúng chuỗi và nâng cấp doanh nghiệp là yêu cầu về “nội lực,” kết nối hạ tầng, logistics và thị trường là điều kiện để các chuỗi đó vận hành hiệu quả.
Theo ông Võ Quốc Huy, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc Cảng Quốc tế Long An, để tăng khả năng kết nối hàng hóa của Tây Ninh với khu vực và quốc tế, cần quan tâm đồng thời đến các điều kiện pháp lý, tổ chức tuyến vận tải và bảo đảm nguồn hàng.
Tỉnh quan tâm tháo gỡ các điều kiện pháp lý liên quan đến hàng hóa quá cảnh, tạo thuận lợi cho dòng hàng từ các nước Đông Nam Á qua Cảng Quốc tế Long An đến Campuchia; đồng thời, nghiên cứu cơ chế hỗ trợ phù hợp trong giai đoạn đầu để thu hút các hãng tàu mở tuyến.
Đồng thời, cần xây dựng cơ sở dữ liệu về hàng hóa xuất nhập khẩu của tỉnh; trong đó, làm rõ sản lượng, nhu cầu và hướng vận chuyển của doanh nghiệp. Đây sẽ là cơ sở để doanh nghiệp logistics, cảng biển làm việc với các hãng tàu, từng bước hình thành tuyến vận tải ổn định, qua đó, giảm chi phí và nâng hiệu quả lưu thông hàng hóa.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Ngô Quang Phúc, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Địa ốc Phú Đông cho rằng, khả năng kết nối đang ngày càng trở thành một yếu tố quan trọng trong lựa chọn địa điểm đầu tư và tổ chức sản xuất, kinh doanh. Hàng hóa có thể lưu thông nhanh, chi phí hợp lý và kết nối thuận lợi với các thị trường sẽ tạo lợi thế cạnh tranh cho địa phương.
Tây Ninh cần phát huy lợi thế kết nối để không chỉ là nơi hàng hóa đi qua mà từng bước hình thành năng lực tổ chức, phân phối và điều phối dòng hàng. Vì vậy, phát triển logistics cần gắn với hệ thống hạ tầng, khu công nghiệp, vùng sản xuất, cửa khẩu, cảng biển và các thị trường tiêu thụ, qua đó, nâng hiệu quả vận chuyển và giảm chi phí cho doanh nghiệp.
Hạ tầng giao thông cũng cần được phát triển theo tư duy kết nối chuỗi. Mỗi tuyến đường, trung tâm logistics cần được đặt trong mối quan hệ với nguồn hàng, khu công nghiệp, vùng sản xuất, cửa khẩu, cảng biển và thị trường.
Những đề xuất này cho thấy hạ tầng không thể được xem là một phần việc tách rời. Hạ tầng chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với nguồn hàng và doanh nghiệp; logistics chỉ phát triển bền vững khi có dòng hàng đủ lớn; còn dòng hàng chỉ tạo ra giá trị cao khi kết nối được với thị trường.
Còn ông Huỳnh Minh Tuấn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Tây Ninh nhấn mạnh, yêu cầu nâng năng lực thực chất của doanh nghiệp địa phương. Doanh nghiệp cần được hỗ trợ cụ thể về đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, truy xuất nguồn gốc, tận dụng FTA và thương mại điện tử xuyên biên giới; đồng thời, tăng kết nối giữa doanh nghiệp đầu tàu với nhà cung ứng địa phương.
Về phía tỉnh, các nhiệm vụ đang được nghiên cứu không chỉ dừng ở hỗ trợ doanh nghiệp mà còn bao gồm chuẩn hóa vùng nguyên liệu và sản phẩm, nâng cao chất lượng, đáp ứng quy tắc xuất xứ và tiêu chuẩn quốc tế, phát triển thương hiệu, mở rộng thị trường FTA, cảnh báo rào cản thương mại, phát triển logistics và kinh tế cửa khẩu.
Theo định hướng, giai đoạn 2026-2030 sẽ tập trung xây nền tảng và nâng cấp chuỗi giá trị; từ khảo sát, xây dựng dữ liệu, lựa chọn chuỗi, chuẩn hóa vùng nguyên liệu và sản phẩm đến phát triển mạng lưới doanh nghiệp đầu tàu, nhà cung ứng, hạ tầng logistics và khả năng tận dụng FTA. Giai đoạn 2031-2045 sẽ hướng tới các công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn như nghiên cứu, thiết kế, chế biến sâu, sản xuất thông minh, dịch vụ tích hợp, logistics xanh và xây dựng thương hiệu ngành hàng.
Mục tiêu cuối cùng vì vậy không chỉ nằm ở các chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu tăng 15-16%/năm, nhập khẩu tăng 12-14%/năm hay duy trì xuất siêu. Quan trọng hơn là hình thành những chuỗi giá trị có sức cạnh tranh, tăng tỷ lệ sử dụng nguyên liệu, linh kiện và dịch vụ trong nước; nâng tỷ lệ hàng hóa được hưởng ưu đãi thuế quan từ các FTA; giảm chi phí logistics và ngày càng có nhiều doanh nghiệp địa phương đủ năng lực trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn, doanh nghiệp FDI và hệ thống phân phối trong nước, quốc tế.
Như ông Phạm Tấn Hòa nhấn mạnh, để hiện thực hóa bài toán này, trước hết phải đánh giá đúng thực trạng, nhận diện chính xác các nút thắt và khâu đột phá; tiếp đó tháo gỡ về cơ chế, chính sách, cơ cấu lại ngành hàng và nâng năng lực cạnh tranh; đồng thời hình thành các mô hình liên kết hiệu quả giữa chính quyền, doanh nghiệp và tập đoàn đa quốc gia. Đó cũng là cách để Tây Ninh biến lợi thế về vị trí địa kinh tế, sản xuất và kết nối thành năng lực cạnh tranh thực chất./.
Tây Ninh không để điểm nghẽn cản trở mục tiêu tăng trưởng kinh tế