Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) đã ban hành Kết luận cuối cùng trong vụ việc điều tra theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 đối với 60 nền kinh tế về việc chưa ban hành hoặc chưa thực thi hiệu quả quy định cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất toàn bộ hoặc một phần bằng lao động cưỡng bức.
Với mức thuế 12,5% đang tạo thêm sức ép cho hàng xuất khẩu Việt Nam. Dù chịu thêm áp lực, doanh nghiệp thủy sản Việt Nam vẫn được đánh giá còn nhiều lợi thế để duy trì thị phần tại thị trường này.
Theo bà Lê Hằng, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), khác với mức thuế tạm thời theo Mục 122 có hiệu lực 150 ngày, Mục 301 có mức thuế 12,5% tuy chỉ cao hơn 2,5% so với nhóm 10%, nhưng điều đáng quan tâm không nằm ở con số tuyệt đối, mà ở việc 2,5% này có thể làm thay đổi lợi thế cạnh tranh giữa các nguồn cung.
Đối với ngành thủy sản toàn cầu, đây không đơn thuần là việc tăng thêm 10% hay 12,5% thuế nhập khẩu. Quan trọng hơn, chính sách này đang làm thay đổi tương quan cạnh tranh giữa các quốc gia cung ứng tại Hoa Kỳ - thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, buộc cả doanh nghiệp xuất khẩu lẫn nhà nhập khẩu Hoa Kỳ phải điều chỉnh chiến lược chuỗi cung ứng.
Theo bà Lê Hằng, thị trường Hoa Kỳ vốn cạnh tranh rất khốc liệt. Phần lớn các nhà nhập khẩu đều có nhiều lựa chọn nguồn cung từ Ecuador, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc hay Malaysia. Khi thuế nhập khẩu không còn đồng đều, chênh lệch chỉ vài điểm phần trăm cũng đủ để tác động đến quyết định phân bổ đơn hàng, đặc biệt với những mặt hàng có tính thay thế cao.
Tuy nhiên, đây cũng không phải là "cú sốc" như nhiều dự báo trước đó. Nhiều đối thủ cạnh tranh của Việt Nam như Thái Lan, Trung Quốc, Na Uy, Chile hay Peru cũng nằm trong nhóm chịu mức thuế 12,5%. Điều này phần nào hạn chế nguy cơ một quốc gia được hưởng lợi tuyệt đối.
Bà Lê Hằng cho biết trong tất cả các ngành hàng thủy sản, tôm là lĩnh vực chịu áp lực rõ nét nhất. Không chỉ chịu thêm 12,5% thuế Section 301, nhiều doanh nghiệp tôm Việt Nam còn đang chịu đồng thời thuế chống bán phá giá (AD) và thuế chống trợ cấp (CVD). Đối với nhóm doanh nghiệp hiện đang xuất khẩu chủ lực sang Hoa Kỳ, tổng nghĩa vụ thuế đã lên khoảng 19,6%, cao hơn đáng kể so với Ecuador, Indonesia hay Thái Lan. Đây là bất lợi không nhỏ trong bối cảnh tôm là ngành hàng cạnh tranh chủ yếu bằng giá. Tác động đầu tiên của Mục 301 có thể không phải là giảm ngay sản lượng xuất khẩu, mà là thu hẹp biên lợi nhuận của doanh nghiệp Việt Nam.
Ecuador hiện rất mạnh ở phân khúc tôm nguyên liệu đông lạnh, nhưng Việt Nam vẫn có lợi thế rõ rệt về chế biến sâu, sản phẩm giá trị gia tăng, khả năng đáp ứng các đơn hàng đa dạng và dịch vụ cung ứng. Đây là những yếu tố mà không phải quốc gia nào cũng có thể thay thế trong thời gian ngắn.
Nói cách khác, Section 301 làm suy giảm lợi thế cạnh tranh về giá của tôm Việt Nam, nhưng chưa đủ để làm thay đổi ngay vị trí của Việt Nam trong chuỗi cung ứng tôm vào Hoa Kỳ, bà Lê Hằng nhìn nhận.
Khác với tôm, cá tra được đánh giá là ngành hàng chịu tác động trực tiếp thấp hơn. Phần lớn các doanh nghiệp cá tra xuất khẩu lớn hiện đang được hưởng mức thuế chống bán phá giá bằng 0 USD/kg hoặc đã được loại khỏi lệnh áp thuế đối với một số tổ hợp nhà sản xuất-xuất khẩu. Vì vậy, chi phí tăng thêm chủ yếu đến từ khoản thuế Section 301.
Quan trọng hơn, cá tra vẫn là sản phẩm có ít đối thủ cạnh tranh trực tiếp tại thị trường Hoa Kỳ. Các loại cá thịt trắng khác như cá minh thái Alaska, cá tuyết hay cá rô phi có đặc điểm sản phẩm, phân khúc tiêu dùng và nguồn cung khác nhau, khó có thể thay thế hoàn toàn cá tra. Do đó, áp lực đối với ngành cá tra chủ yếu nằm ở việc duy trì sức mua và chia sẻ chi phí thuế với khách hàng, hơn là nguy cơ mất thị phần lớn vào tay đối thủ.
Đối với cá ngừ, đây lại là ngành hàng chịu áp lực tổng hợp lớn nhất. Theo bà Lê Hằng, ngoài thuế Mục 301, doanh nghiệp cá ngừ Việt Nam còn phải đáp ứng hàng loạt yêu cầu nghiêm ngặt của Hoa Kỳ liên quan đến Đạo luật Bảo vệ động vật có vú biển (MMPA), Certificate of Admissibility (COA), truy xuất nguồn gốc khai thác, các quy định của NOAA và nhiều tiêu chuẩn về tính bền vững. Điều này làm cho chi phí tuân thủ của ngành cá ngừ tăng lên đáng kể.
Các nhóm hải sản khác như mực, bạch tuộc, cua, ghẹ và nhuyễn thể có vỏ, tác động của Mục 301 nhìn chung ở mức thấp hơn. Phần lớn các sản phẩm này hiện không chịu thuế chống bán phá giá hoặc chống trợ cấp, nên chi phí tăng thêm chủ yếu là khoản thuế bổ sung 12,5%.
Theo VASEP, điều cộng đồng doanh nghiệp quan tâm hiện nay không chỉ là 12,5%, mà là thuế Mục 301 sẽ áp dụng trong bao lâu.
Mặc dù đối mặt với nhiều thách thức, theo bà Lê Hằng, thủy sản Việt Nam vẫn còn những dư địa đáng kể. Nhu cầu nhập khẩu thủy sản của Hoa Kỳ rất lớn. Trong khi, năng lực chế biến, khả năng cung ứng ổn định và chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam vẫn là lợi thế quan trọng mà không nhiều quốc gia có thể thay thế ngay.
Bên cạnh đó, việc Việt Nam ban hành Nghị định 292/2026/NĐ-CP về cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất bằng lao động cưỡng bức, có hiệu lực từ ngày 5/9/2026, là một bước đi đáng chú ý nhằm hoàn thiện khung pháp lý phù hợp với các yêu cầu quốc tế. Nếu quá trình thực thi được Hoa Kỳ ghi nhận tích cực, đây có thể trở thành cơ sở quan trọng để Việt Nam tiếp tục đối thoại và vận động nhằm cải thiện vị thế trong các chính sách thương mại thời gian tới.
Theo VASEP, trong ngắn hạn, doanh nghiệp khó tránh khỏi việc phải chia sẻ một phần chi phí thuế với nhà nhập khẩu và chịu áp lực lớn hơn trong cạnh tranh đơn hàng. Tuy nhiên, về trung và dài hạn, lợi thế cạnh tranh của thủy sản Việt Nam sẽ không chỉ được quyết định bởi mức thuế nhập khẩu, mà ngày càng phụ thuộc vào năng lực chế biến sâu, khả năng phát triển sản phẩm giá trị gia tăng, mức độ tuân thủ các tiêu chuẩn lao động, môi trường, truy xuất nguồn gốc và khả năng thích ứng trước những thay đổi trong chính sách thương mại toàn cầu.
Ở góc độ ngành gỗ, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết, các sản phẩm đang chịu thuế Mục 232 sẽ không thuộc đối tượng áp dụng thuế theo Mục 301 này. Cụ thể các sản phẩm là: ghế có khung gỗ bọc đệm dùng trong gia đình và các loại ghế có khung gỗ bọc đệm khác (bao gồm ghế sofa và sofa môđun/sofa góc (sectional)); các loại ghế bọc đệm khác có khung gỗ; tủ bếp bằng gỗ được thiết kế để lắp đặt cố định; tủ bếp bằng gỗ đã hoàn thiện và tủ chậu rửa phòng tắm (bathroom vanities) bằng gỗ đã hoàn thiện; các bộ phận của tủ bếp bằng gỗ và tủ chậu rửa phòng tắm bằng gỗ.
Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam nhận định, sau khi thuế 10% theo Mục 122 hết hiệu lực, Hoa Kỳ tiếp tục áp dụng biện pháp thuế quan theo Mục 301 đối với hàng hóa của Việt Nam và nhiều nước khác ở mức 12,5%. Trong thời gian tới, Hoa Kỳ có thể áp thuế dư thừa công suất (overcapacity) và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ lên hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam.
Các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu gỗ sang Hoa Kỳ hiện nay quan tâm nhất là khả năng Hoa Kỳ áp thuế theo Mục 301 liên quan đến vấn đề dư thừa công suất và vi phạm bản quyền sở hữu trí tuệ mà phía Hoa Kỳ đang xem xét, ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết./.