Tín chỉ carbon rừng được định giá theo chất lượng để đưa lên sàn giao dịch

Trường hợp giá tín chỉ carbon rừng thu thập được có đơn vị tính giá là ngoại tệ thì quy đổi thành đồng Việt Nam hoặc tỷ giá tính thuế do Ngân hàng công bố tại thời điểm xác định mức chi trả.
Tín chỉ carbon rừng được định giá theo chất lượng để đưa lên sàn giao dịch. (Ảnh minh họa. Nguồn ảnh: TTXVN)

Thông tin từ Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm ngày 21/7 cho biết Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Thông tư số 31/2026/TT-BNNMT quy định phương pháp định giá rừng, hướng dẫn định khung giá rừng và phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng; qua đó tạo căn cứ kỹ thuật để các dự án xác định mức giá trước khi đàm phán hợp đồng, đưa tín chỉ lên sàn giao dịch carbon.

Theo đó, chi phí xây dựng dự án carbon rừng được xác định như sau: Thu thập, tổng hợp thông tin về chi phí thực tế xây dựng, đăng ký, đo đạc, báo cáo, thẩm định, cấp tín chỉ của kỳ báo cáo đã hoàn thành; ước tính chi phí đo đạc, báo cáo, thẩm định, cấp tín chỉ của các kỳ tiếp theo và chi phí liên quan đến trao đổi, chuyển nhượng tín chỉ carbon rừng của dự án carbon rừng cần xác định mức chi trả.

Mức chi trả để đàm phán hợp đồng hoặc đưa lên sàn giao dịch carbon được xác định bằng 2 phương pháp là “chi phí” và “so sánh.” Sau khi tính toán, mức cao hơn sẽ được dùng làm cơ sở đàm phán hợp đồng hoặc đưa lên sàn giao dịch.

Với phương pháp chi phí, đơn vị xây dựng dự án phải tính toàn bộ khoản tiền cần thiết để tạo ra lượng tín chỉ có thể cung ứng. Các khoản liên quan bao gồm: Chi phí xây dựng và đăng ký dự án; đo đạc, báo cáo, thẩm định kết quả giảm phát thải; cấp tín chỉ; trao đổi, chuyển nhượng và các khoản thuế, phí liên quan.

Quy định cũng tính chi phí hỗ trợ bảo vệ, phát triển rừng và sinh kế. Khoản này được xác định tối đa bằng 15% kinh phí bảo vệ rừng do Nhà nước cấp trong thời gian thực hiện dự án dựa trên diện tích rừng, mức hỗ trợ mỗi ha và số năm triển khai. Đặc biệt, dự án phải xác định lượng tín chỉ thực sự có thể cung ứng, dựa trên kết quả giảm phát thải đã được thẩm định, đã được cấp và lượng dự kiến của các kỳ tiếp theo.

Trong khi đó, theo phương pháp so sánh của Thông tư số 31/2026/TT-BNNMT, dự án phải lựa chọn ít nhất 3 dự án carbon rừng khác làm tham chiếu, với điều kiện đã có giao dịch trong nước hoặc quốc tế trong vòng 24 tháng gần nhất.

Trường hợp giá tín chỉ carbon rừng thu thập được có đơn vị tính giá là ngoại tệ thì quy đổi thành đồng Việt Nam theo tỷ giá trung tâm (đối với USD) hoặc tỷ giá tính thuế do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm xác định mức chi trả.

Với trường hợp dự án carbon rừng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân không có giao dịch trong thời gian 12 tháng liên tục, cơ quan, tổ chức xây dựng dự án carbon rừng có trách nhiệm điều chỉnh mức chi trả theo giá tín chỉ carbon rừng bình quân của 3 dự án carbon rừng đã giao dịch gần nhất với thời điểm điều chỉnh mức chi trả.

Về chất lượng, theo thông tư của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các dự án rừng tự nhiên, rừng ngập mặn, phục hồi đất thoái hóa hoặc rừng trồng có tỷ lệ cây bản địa cao, thời gian duy trì dài được xếp thành 2 nhóm. Trong đó nhóm thứ nhất phải đảm bảo trên 70% là cây bản địa và có thời gian duy trì dự án từ 20 năm trở lên. Nhóm thứ hai là dự án carbon rừng thực hiện ở khu vực rừng tự nhiên hoặc rừng ngập mặn hoặc đất thoái hóa với thời gian duy trì dự án từ 10 đến dưới 20 năm hoặc thực hiện khu vực rừng trồng hoặc nông lâm kết hợp và cây phân tán với loài cây trồng có dưới 70% là cây bản địa và thời gian duy trì dự án từ 10 đến dưới 20 năm.

Đối với dự án carbon rừng thực hiện theo tiêu chuẩn carbon rừng quốc tế, tín chỉ đạt chuẩn toàn vẹn carbon hoặc đủ điều kiện sử dụng trong cơ chế bù đắp phát thải hàng không quốc tế cũng sẽ phải đánh giá cao hơn.

Các yêu cầu kỹ thuật trên được quy định nhằm giúp doanh nghiệp, người dân tham gia dự án carbon rừng có một quy trình rõ ràng hơn khi xây dựng phương án tài chính, góp phần giảm chênh lệch thông tin trong đàm phán với đối tác quốc tế./.

(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục