Từ 1/1/2027, phụ nữ sinh 2 con trước 35 tuổi được hỗ trợ tối thiểu 2 triệu đồng

Điểm a khoản 1 Điều 14 Luật Dân số quy định trường hợp sinh con thứ hai, thời gian nghỉ thai sản đối với lao động nữ là 7 tháng; lao động nam là 10 ngày làm việc khi vợ sinh con.

Phòng chăm sóc trẻ sơ sinh Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)
Phòng chăm sóc trẻ sơ sinh Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)

Chính phủ ban hành Nghị định số 168/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Dân số.

Trong đó, Nghị định số 168/2026/NĐ-CP quy định chi tiết khoản 2 Điều 14, khoản 5 Điều 18, điểm a khoản 2 Điều 21, khoản 2 Điều 25 Luật Dân số bao gồm: Điều kiện, thủ tục hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai; mức hỗ trợ tài chính và trình tự, thủ tục thực hiện việc hỗ trợ tài chính khi sinh con theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Luật Dân số; phạm vi, đối tượng, mức hỗ trợ khám sàng lọc một số bệnh bẩm sinh trước sinh và sơ sinh theo lộ trình ưu tiên quy định tại điểm a khoản 2 Điều 21 Luật Dân số...

Điều kiện, thủ tục hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai

Điểm a khoản 1 Điều 14 Luật Dân số quy định trường hợp sinh con thứ hai, thời gian nghỉ thai sản đối với lao động nữ là 7 tháng; lao động nam là 10 ngày làm việc khi vợ sinh con.

Về điều kiện hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai, Nghị định quy định lao động nữ sinh con thứ hai, lao động nam khi vợ sinh con thứ hai đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và được hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai quy định tại điểm a khoản 1 Điều 14 Luật Dân số thuộc các trường hợp sau:

- Lao động nữ khi sinh con mà tại thời điểm sinh có một con đẻ còn sống;

- Lao động nam khi vợ sinh con mà tại thời điểm sinh, người vợ có một con đẻ còn sống.

Nghị định cũng nêu rõ: Trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 52 Luật Bảo hiểm xã hội không được hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai theo quy định ở trên.

Thủ tục hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai thực hiện theo pháp luật về bảo hiểm xã hội và quy trình giải quyết hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Người kê khai chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của nội dung kê khai đề nghị hưởng chế độ quy định ở trên.

Mức hỗ trợ tài chính khi sinh con

Nghị định quy định mức hỗ trợ tài chính tối thiểu là 2.000.000 đồng/phụ nữ khi sinh con thuộc các trường hợp sau:

a- Phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người;

b- Phụ nữ ở tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế;

c- Phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi.

Phụ nữ khi sinh con đồng thời thuộc các trường hợp a,b,c ở trên thì được hưởng một mức hỗ trợ.

Trình tự, thủ tục thực hiện hỗ trợ kinh phí khi sinh con như sau:

Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) căn cứ thông tin từ hệ thống liên thông thủ tục đăng ký khai sinh, cơ sở dữ liệu quốc gia dân cư, ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) và các cơ sở dữ liệu có sẵn để quyết định hỗ trợ kinh phí và thực hiện chi trả cho phụ nữ sinh con theo quy định trên cùng với thời điểm đăng ký khai sinh.

Các quy định trên có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Riêng trường hợp quy định tại b, c có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2027.

Kinh phí hỗ trợ tài chính do ngân sách địa phương bảo đảm.

Phụ nữ mang thai được khám, sàng lọc trước sinh đủ 4 bệnh cơ bản

Nghị định 168/2026/NĐ-CP cũng quy định cụ thể phạm vi, đối tượng khám sàng lọc một số bệnh bẩm sinh trước sinh và sơ sinh.

Nghị định quy định phụ nữ mang thai được khám và thực hiện các phương pháp sàng lọc trước sinh đủ 04 bệnh cơ bản: Hội chứng Down, hội chứng Edwards, hội chứng Patau, bệnh Thalassemia (tan máu bẩm sinh) (gói dịch vụ sàng lọc trước sinh).

Trẻ sơ sinh được khám và thực hiện các phương pháp sàng lọc sơ sinh đủ 05 bệnh cơ bản: Suy giáp trạng bẩm sinh, thiếu men G6PD, tăng sản thượng thận bẩm sinh, khiếm thính bẩm sinh, bất thường tim bẩm sinh nặng (gói dịch vụ sàng lọc sơ sinh).

ttxvn-tre-so-sinh.jpg
Mẹ và bé trai sơ sinh sau phẫu thuật trong phòng Hồi sức sơ sinh, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa. (Ảnh: TTXVN phát)

Mức hỗ trợ khám sàng lọc

Nghị định cũng quy định rõ mức hỗ trợ tài chính, phương thức thực hiện, lộ trình ưu tiên khám sàng lọc một số bệnh bẩm sinh trước sinh và sơ sinh. Cụ thể:

Mức hỗ trợ tài chính, phương thức thực hiện:

- Mức hỗ trợ khám sàng lọc các bệnh bẩm sinh trước sinh được thanh toán theo thực tế nhưng tối đa không vượt quá 900.000 đồng/trường hợp và các bệnh bẩm sinh sơ sinh được thanh toán theo thực tế nhưng tối đa không vượt quá 600.000 đồng/trường hợp.

Trường hợp cơ quan có thẩm quyền phê duyệt giá gói dịch vụ thì thực hiện mức hỗ trợ tài chính theo giá gói dịch vụ được phê duyệt.

Mức hỗ trợ trên được chi trả trực tiếp cho cơ sở y tế thu thập mẫu và cơ sở y tế thực hiện các kỹ thuật sàng lọc.

Phương thức thực hiện khám sàng lọc các bệnh bẩm sinh trước sinh và sơ sinh thực hiện theo quy định pháp luật về giao nhiệm vụ hoặc đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên. Đối với cơ sở thực hiện sàng lọc trước sinh, sơ sinh khi được Nhà nước đặt hàng giao hoặc nhiệm vụ mà chưa đủ năng lực thực hiện toàn bộ gói dịch vụ thì được phép ký hợp đồng hỗ trợ chuyên môn với các cơ sở y tế khác đáp ứng đủ năng lực chuyên môn.

Lộ trình ưu tiên:

Từ ngày 1/7/2026 đến ngày 31/12/2026, phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, bảo trợ xã hội; người dân tại thôn đặc biệt khó khăn; xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo được sử dụng miễn phí gói dịch vụ khám sàng lọc và mức hỗ trợ khám sàng lọc từ nguồn ngân sách nhà nước.

Từ ngày 1/1/2027, tất cả phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh được hưởng hỗ trợ gói dịch vụ khám sàng lọc và mức hỗ trợ khám sàng lọc từ ngân sách nhà nước của Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035 đến khi danh mục các bệnh khám sàng lọc trước sinh và sơ sinh được cấp có thẩm quyền quy định trong danh mục bệnh được hưởng bảo hiểm y tế theo lộ trình tăng mức đóng bảo hiểm y tế và khả năng cân đối quỹ bảo hiểm y tế./.

(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục