Sáng 29/7, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và chỉ đạo về các nghị quyết (trong đó có Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh), nhiệm vụ xây dựng Đảng, phát triển đất nước và nâng cao hiệu quả hệ thống chính trị Việt Nam trong thời gian tới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh phát triển kinh tế biển phải gắn bảo vệ hệ sinh thái, nâng cao đời sống Nhân dân, giữ vững chủ quyền và phát triển đất nước. Vì vậy, chúng ta phải tích cực chuẩn bị các điều kiện để đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, có nền quản trị biển hiện đại, có công nghệ biển tiên tiến.
Nhân dịp này, phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus đã có cuộc phỏng vấn Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Quốc Toản, về tầm vóc của bước chuyển chiến lược trên, cũng như định hướng mới về thể chế, để Việt Nam sớm trở thành “quốc gia biển mạnh” như kỳ vọng.
Xây dựng khuôn khổ pháp lý hiện đại, đồng bộ
- Đầu tiên, xin ông cho biết ý nghĩa, cũng như tầm quan trọng của Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh?
Cục trưởng Nguyễn Quốc Toản: Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là văn kiện quan trọng, xác lập tầm nhìn chiến lược nhằm đáp ứng yêu cầu mở rộng không gian phát triển quốc gia, đổi mới quản trị biển hiện đại, phát huy vai trò chiến lược của biển trong phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế. Cũng bởi tể, biển được Đảng, Nhà nước rất quan tâm.
Biển có vị trí vô cùng đặc biệt trong suốt quá trình chiều dài phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Biển không chỉ là tài nguyên, khu vực có tính chất chiến lược đối với an ninh quốc phòng, mà biển còn là cuộc sống hàng ngày của hàng triệu ngư dân bám biển. Biển cũng là hình ảnh biểu tượng của Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế. Đặc biệt, gần đây với sự thay đổi của mô hình chính quyền địa phương, với sự thay đổi về địa giới hành chính của đất nước từ 63 tỉnh, thành phố xuống còn 34 tỉnh, thành phố (trong đó 21 địa phương có bờ biển), đã tạo ra dư địa phát triển về mặt không gian kinh tế, không gian địa lý và có những sự thay đổi rất quan trọng.
Cùng với việc tổng kết chiến lược phát triển kinh tế biển (gọi tắt là Nghị quyết số 36-NQ/TW) của Trung ương lần này cũng đặt ra vấn đề liên quan tới sửa đổi Luật Tài nguyên môi trường biển và hải đảo. Trong quá trình xây dựng luật, chúng tôi cũng đã tham khảo ý kiến nhiều nơi.
Chúng tôi tin Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh sẽ tạo những cơ sở quan trọng, những căn cứ pháp lý quan trọng, để tiếp tục hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu phát triển mới.
- Như ông đề cập, sau 10 năm triển khai Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tiến hành tổng kết thực tiễn thi hành. Vậy đâu là những “điểm nghẽn” lớn nhất đang cản trở việc khai thác hiệu quả nguồn lực từ biển và những hạn chế này đã tác động thế nào đến các nhà đầu tư, doanh nghiệp, quá trình phát triển kinh tế biển của Việt Nam?
Cục trưởng Nguyễn Quốc Toản: Sau 10 năm triển khai thi hành, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho công tác quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo, góp phần thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh yêu cầu phát triển mới, đặc biệt là mục tiêu đưa kinh tế biển trở thành động lực tăng trưởng của đất nước, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ những hạn chế, chưa theo kịp thực tiễn phát triển.
Vừa qua, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đã tổng kết thi hành luật và đã nhận diện một số điểm nghẽn cốt lõi. Đó là khuôn khổ pháp lý về quản lý, sử dụng không gian biển và quyền sử dụng khu vực biển chưa đầy đủ; cơ chế, chính sách thúc đẩy các hoạt động kinh tế trên biển, hải đảo chưa đủ mạnh; cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng và chuyển đổi số trong quản trị biển chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Bên cạnh đó, khuôn khổ pháp lý về quyền của tổ chức, cá nhân sử dụng khu vực biển chưa đầy đủ; việc ghi nhận, bảo đảm và thực hiện các quyền của người sử dụng khu vực biển còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu huy động nguồn lực đầu tư dài hạn trên biển. Nhiều doanh nghiệp phản ánh việc chưa có cơ chế pháp lý đầy đủ để xác lập, bảo đảm và thực hiện quyền sử dụng khu vực biển đã làm hạn chế khả năng huy động vốn, tiếp cận tín dụng, thu hút đầu tư và triển khai các dự án có quy mô lớn.
Một hạn chế khác là các quy định về phát triển kinh tế biển còn phân tán, thiếu các cơ chế đủ mạnh để khuyến khích đầu tư vào các ngành kinh tế biển mới như điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp, kinh tế tuần hoàn biển, công nghiệp sinh học biển, dịch vụ logistics biển và các mô hình khai thác đa mục đích trên biển. Trong khi đó, yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, bền vững, phát thải carbon thấp và ứng dụng khoa học, công nghệ ngày càng trở nên cấp thiết.
Ngoài ra, một số quy định của luật hiện hành chưa theo kịp sự phát triển của hệ thống pháp luật, còn có sự giao thoa với các luật chuyên ngành về đầu tư, đất đai, thủy sản, bảo vệ môi trường, quy hoạch, địa chất và khoáng sản,... dẫn đến khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện và làm gia tăng chi phí tuân thủ đối với doanh nghiệp.
Đối với các nhà đầu tư và doanh nghiệp, những điểm nghẽn nêu trên đã làm giảm tính ổn định và khả năng dự báo của môi trường đầu tư trên biển; kéo dài thời gian chuẩn bị và triển khai dự án; phát sinh chi phí tuân thủ; đồng thời hạn chế khả năng khai thác hiệu quả nguồn lực từ biển cũng như huy động các nguồn vốn đầu tư dài hạn, đặc biệt là đối với các dự án có quy mô lớn, công nghệ cao.
Chính vì vậy, việc sửa đổi luật lần này không chỉ nhằm khắc phục những bất cập, tháo gỡ các điểm nghẽn của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 mà còn hướng tới xây dựng khuôn khổ pháp lý hiện đại, đồng bộ, minh bạch và có tính dự báo, bảo đảm quản lý thống nhất không gian biển, phát huy hiệu quả nguồn lực từ biển; tạo môi trường đầu tư ổn định, mở rộng không gian phát triển cho doanh nghiệp, người dân và địa phương.
Đồng thời bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường biển, quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia; qua đó tạo nền tảng thể chế lâu dài để đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển và phát triển bền vững trong thế kỷ XXI.
Khơi thông nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững
- Một trong những điểm mới trong dự thảo luật là đề xuất cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển. Vậy việc xác lập quyền sử dụng khu vực biển có ý nghĩa thế nào đối với việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp cũng như tạo lập môi trường đầu tư ổn định trên biển?
Cục trưởng Nguyễn Quốc Toản: Một trong những điểm mới quan trọng của dự thảo luật này là quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển. Có thể nói đây là bước hoàn thiện quan trọng trong thể chế quản lý, sử dụng không gian biển theo hướng công khai, minh bạch và hiện đại, bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sử dụng biển.
Hiện nay, quyền sử dụng khu vực biển của tổ chức, cá nhân chủ yếu được ghi nhận thông qua quyết định giao khu vực biển. Tuy nhiên, đối với các dự án có quy mô lớn, thời gian sử dụng dài hoặc cần huy động vốn tín dụng, hình thức này chưa thật sự thuận lợi cho việc công khai, chứng minh và thực hiện các quyền liên quan đến khu vực biển được giao.
Quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển được xác định là bước hoàn thiện quan trọng trong thể chế quản lý, sử dụng không gian biển theo hướng công khai, minh bạch và hiện đại.
Vì vậy, dự thảo Luật không chỉ đề xuất cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển mà còn mở rộng các quyền của người sử dụng khu vực biển theo hướng phù hợp với cơ chế thị trường và pháp luật có liên quan.
Giấy chứng nhận là chứng thư pháp lý ghi nhận và công khai hóa quyền sử dụng khu vực biển đã được Nhà nước xác lập, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân thực hiện các quyền như thế chấp, cho thuê, góp vốn, chuyển nhượng quyền sử dụng khu vực biển trong những trường hợp pháp luật cho phép; đồng thời nâng cao tính minh bạch và an toàn pháp lý trong hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh.
Trong đó, đối với người dân và doanh nghiệp, quy định này góp phần bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp, nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng, huy động vốn, giảm rủi ro pháp lý và tăng tính ổn định, khả năng dự báo của môi trường đầu tư, nhất là đối với các dự án có quy mô lớn, thời gian đầu tư dài như nuôi biển công nghiệp, điện gió ngoài khơi, cảng biển, logistics và hạ tầng biển
Đối với Nhà nước, việc cấp Giấy chứng nhận không làm phát sinh thêm quyền ngoài những quyền đã được pháp luật quy định mà là công cụ để chuẩn hóa việc xác lập, quản lý và theo dõi quyền sử dụng khu vực biển; góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về sử dụng không gian biển, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hạn chế tranh chấp, chồng lấn trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên biển.
Có thể khẳng định, việc xác lập quyền sử dụng khu vực biển thông qua Giấy chứng nhận vừa bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp, vừa tạo lập môi trường đầu tư minh bạch, ổn định, an toàn về pháp lý, qua đó khơi thông nguồn lực từ biển, thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước.
Hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh
- Khi dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) được Quốc hội thông qua với những cơ chế đột phá như kỳ vọng, theo ông, đạo luật này sẽ tạo ra những chuyển biến mang tính chiến lược gì về phát triển kinh tế biển?
Cục trưởng Nguyễn Quốc Toản: Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) nếu được Quốc hội thông qua, sẽ tạo bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển biển, từ quản lý phân tán theo từng ngành sang quản lý tổng hợp tài nguyên, quản lý, sử dụng thống nhất không gian biển gắn với quy hoạch, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; tạo nền tảng để khai thác hiệu quả nguồn lực từ biển, phát triển kinh tế biển nhanh, bền vững, đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia trên biển.
Quan điểm xuyên suốt của nước ta hiện nay là định vị biển không chỉ là không gian sinh tồn mà còn là nguồn lực phát triển, không gian tăng trưởng mới và một trong những động lực chiến lược thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; nơi hình thành các cực tăng trưởng, các ngành kinh tế biển hiện đại và những động lực phát triển mới của đất nước.
Chúng tôi kỳ vọng Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) sẽ tạo ra bốn chuyển biến chiến lược. Thứ nhất, mở rộng không gian phát triển cho các ngành kinh tế biển hiện đại. Thứ hai, tạo cơ sở pháp lý minh bạch để huy động nguồn lực xã hội, thu hút nhà đầu tư chiến lược và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Thứ ba, bảo đảm phát triển kinh tế biển trong giới hạn chịu tải của hệ sinh thái, gắn với bảo vệ sinh kế cộng đồng và gìn giữ biển cho các thế hệ tương lai. Thứ tư, chuyển mạnh từ quản lý dựa nhiều vào thủ tục sang quản trị dựa trên quy hoạch, dữ liệu, giám sát và quản lý rủi ro.
- Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực biển và hải đảo, Cục Biển và Hải đảo Việt Nam sẽ gửi gắm thông điệp gì tới cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư và các địa phương ven biển để cùng chung tay hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển trong thế kỷ XXI như tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm?
Cục trưởng Nguyễn Quốc Toản: Biển Việt Nam không chỉ là không gian sinh tồn mà còn là không gian phát triển, không gian tăng trưởng mới và nguồn lực chiến lược của quốc gia. Vì vậy, Nhà nước sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo lập môi trường đầu tư minh bạch, ổn định, an toàn; đồng hành cùng doanh nghiệp khơi thông, huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực từ biển.
Trong thời gian tới, nhà nước sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo lập môi trường đầu tư minh bạch, ổn định, an toàn; đồng hành cùng doanh nghiệp khơi thông, huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực từ biển.
Chúng tôi mong muốn cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư và các địa phương, đặc biệt là các địa phương có biển sẽ cùng chung tay phát triển các hoạt động kinh tế trên biển theo hướng xanh, hiện đại, đổi mới sáng tạo và bền vững, góp phần hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, cũng như tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm./.
Trân trọng cảm ơn ông!