Mặt nào đó nó cũng thể hiện sự “chuyên nghiệp” trong quá trình phát triểnthị trường âm nhạc đại chúng và nó cũng được xem là kết quả của sự nhanh nhạycủa những nhà sản xuất, bầu show, ca sĩ…
Tại sao phải độc quyền ca khúc?
Cho đến nay, nhiều người đều đồng ý rằng các năm 1997, 1998 là giai đoạnđỉnh điểm huy hoàng của nhạc Việt, để rồi một vài năm ngắn ngủi sau đó nó bắtđầu “lụi tàn” và kéo dài mãi cho đến hôm nay.
Năm 1997 cũng là năm mà giải thưởng "Làn sóng xanh" ra đời, nó thật sự làmột làn gió mát lành cho nhạc Việt, hào hứng, sôi nổi và đã góp phần vào việcquảng bá những thành tựu của ca khúc nhạc Việt (nội địa) để đẩy lùi luồng âmnhạc “hải ngoại” mà trước đó, dù có dùng những biện pháp hành chính cũng khôngthể ngăn cản được dòng nhạc này.
Ca khúc được đứng vào "top 10 Làn sóng xanh", ngoài sự vinh danh, hiệu quảkinh tế kèm theo là rất thiết thực - ca sĩ sẽ có dịp biểu diễn nhiều lần nhữngca khúc này trên sân khấu và băng đĩa có ca khúc "top 10 Làn sóng xanh" đượctiêu thụ với số lượng lớn.
Để làm cho ca khúc được đông đảo công chúng yêu mến và nhằm chiếm một suấttrong giải thưởng "Làn sóng xanh" hàng năm luôn là mục đích và mơ ước của nhiềuca sĩ, nhất là các ca sĩ chưa nổi tiếng lắm.
Tuy nhiên, khi một ca khúc được nhiều người yêu thích nếu không độc quyền,nó sẽ có rất nhiều ca sĩ cùng hát, vì vậy mà “thị phần” trên sân khấu và băngđĩa bị chia nhỏ, cơ hội nổi tiếng cùng bài “hit” ít đi, đó cũng là một trongnhững lý do khiến các ca sĩ muốn độc quyền ca khúc. Mặt khác, việc xây dựngnhững bài “hit” lắm lúc cũng cần sự đầu tư của ca sĩ.
Ông Hoàng Tuấn (bầu của Đan Trường) cho biết: “Ca khúc "Nội tôi" của ĐìnhVăn trước đó đã có vài ca sĩ hát, nhưng không ai biết đến. Chỉ khi Hoàng Tuấnmua độc quyền cho Đan Trường rồi gia công phối khí lại, đầu tư vào trang phục,dàn dựng, bỏ tiền làm clip... tổng đầu tư gần 100 triệu đồng sau đó mới “đẩy” cakhúc trở thành “hit” và đoạt giải "Làn sóng xanh" (2007). Nếu không phải là cakhúc độc quyền để bảo đảm “quyền lợi” khi nó đã trở thành “hit” thì không ai bỏtiền ra đầu tư cả”.
Nhạc sĩ Minh Vy thì cho rằng: “Mua bán độc quyền ca khúc trở nên phổ biếncùng với sự phát triển “hùng hậu” của lực lượng quản lý, đó cũng là một biểuhiện chuyên nghiệp hóa”.
Ngoài ra, cũng do trường hợp nhiều ca sĩ “đụng hàng”, có khi ca sĩ địnhhát một bài nào đó trong 1 show diễn, nhưng trước đó đã có người khác hát rồi,hoặc các “sao” không chịu tình trạng những ca sĩ không cùng “đẳng cấp” hát trùngbài với mình. Vì vậy tốt nhất là mua độc quyền cho tiện.
Ai là người tiên phong?
Ca sĩ nào và nhạc sĩ nào là những người mua bán độc quyền ca khúc đầutiên? Câu hỏi có lẽ rất khó có một trả lời chính xác. Tuy nhiên, vào giai đoạnmà nhạc Việt lên ngôi, cũng đồng thời là giai đoạn hoàng kim của các hãng sảnxuất - phát hành băng đĩa tại Thành phố Hồ Chí Minh. Những “trùm” biên tập (sảnxuất) thời đó như nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiện, bà Phan Mộng Thúy... đều cho rằngviệc mua - bán độc quyền ca khúc phổ biến là vào giai đoạn "Làn sóng xanh" xuấthiện.
Bà Phan Mộng Thúy, Giám đốc Phương Nam Film cho biết: “Năm 1996, với mụcđích tạo ra một sản phẩm mới độc đáo, khác với một số hãng băng đĩa khác, PhươngNam Film đã đặt hàng khá nhiều nhạc sĩ như Trịnh Công Sơn, Nguyễn Ngọc Thiện,Nguyễn Văn Hiên, Vũ Hoàng, Trần Thanh Tùng... sáng tác để Phương Nam Film dùngđộc quyền nhằm xây dựng 2 album nhạc thiếu nhi”.
Đó là về phương diện một công ty mua độc quyền bài hát để làm album (gồmnhiều ca sĩ hát); còn việc mua độc quyền để xây dựng hình ảnh một ca sĩ có thểnói đến những “hợp đồng độc quyền” của Hoàng Tuấn vào năm 1997.
Khi những cakhúc nhạc Hoa lời Việt làm mưa làm gió trên thị trường, Hoàng Tuấn đã đặt hàngcác nhạc sĩ sáng tác phần lời Việt cho các ca khúc nhạc Hoa để sử dụng độc quyềncho Đan Trường. Nhạc sĩ Lê Hựu Hà viết lời Việt cho ca khúc nhạc "Hoa Trái timyêu"; Nguyễn Ngọc Thiện viết lời Việt cho một loạt các ca khúc nhạc Hoa như:"Chia tay mong gặp lại", "Tình yêu đam mê", "Hãy nói lời yêu anh", "Hoa tàn","Về quê cũ", "Cùng hát vang"... Những bài hát này sau đó đã được tập hợp trongalbum "Nhạc tuyển Đan Trường vol.1".
Hai trường hợp trên có thể xem là “điển hình” của việc mua bán độc quyềnca khúc giữa nhạc sĩ với ca sĩ hoặc nhà sản xuất. Ngoài ra trường hợp cá biệt,nhạc sĩ của hãng sáng tác và dành độc quyền cho ca sĩ của mình lại có sớm hơn(1993). Đó là trường hợp bài "Mưa bụi" sáng tác của Hữu Minh và Vinh Sử (nhạc sĩHữu Minh chính là Minh Vy của hãng Kim Lợi) dùng độc quyền cho cặp song ca ĐìnhVăn - Tài Linh trong album "Mưa bụi" (hãng Kim Lợi) làm xôn xao báo chí mộtthời./.