Nghề muối ở Bạc Liêu: Từ nghề truyền thống đến di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Nghề làm muối không chỉ phản ánh nét đặc trưng trong đời sống, lao động của người dân Bạc Liêu qua nhiều thế hệ, mà còn trở thành điểm nhấn văn hóa trong bức tranh văn hóa đặc sắc của Việt Nam.
Bạc Liêu là một trong những địa phương có diện tích sản xuất muối lớn của cả nước. (Ảnh: TTXVN phát)

Nghề muối ở Bạc Liêu có lịch sử lâu đời, được truyền qua nhiều thế hệ. Với tinh thần lao động cần cù, sáng tạo của diêm dân cũng như sự ưu ái của mẹ thiên nhiên với vùng đất này, hạt muối Bạc Liêu có “hậu ngọt” không nơi nào có được. Thật vậy, nghề làm muối ở Bạc Liêu đã không chỉ phản ánh nét đặc trưng trong đời sống, lao động của người dân nơi đây, mà còn góp phần hòa quyện văn hóa của địa phương vào bức tranh văn hóa của người dân Việt Nam, tự hào là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Vị hậu ngọt đặc trưng của hạt muối ở Bạc Liêu

Muối Bạc Liêu hay muối Long Điền - nơi có diện tích sản xuất muối nhiều nhất và nổi tiếng nhất Bạc Liêu. Một số địa danh ở Bạc Liêu thể hiện sự phát triển của nghề truyền thống này như Tu Muối (nhà kho chứa muối) dọc dài gần cây số nằm trên bờ sông Bạc Liêu, hay kinh Dòng Me được đào để chuyên chở muối từ ven biển vào đến tận nội thành bán cho ghe làng chở đi thương cảng tại Sài Gòn hoặc ngược dòng sông Hậu sang Campuchia.

Muối Bạc Liêu được ca ngợi là hạt muối để lại “hậu ngọt” chứ không phải vị chát như ở vùng khác, nhờ vào sự ưu ái của thiên nhiên dành cho vùng đất này do bờ biển bằng phẳng và thấp, không có các núi đá vôi ven biển, thuận lợi cho việc lấy nước biển vào các kênh mương, trảng chứa nước làm muối; điều kiện khí hậu thuận lợi cho quá trình bốc, thoát hơi nước từ các sân phơi và quá trình kết tinh muối; hàm lượng sét trong đất mặn sản xuất muối cao nên tránh được thất thoát nước biển giúp tăng sản lượng muối; độ mặn nước biển thuận lợi cho việc kết tinh muối nhanh và tốt; chế độ bán thủy triều, hệ thống sông ngòi dày đặc, có các cửa sông chính là cửa sông Gành Hào, Chùa Phật và Cái Cùng thuận lợi cho việc dẫn nước biển nhập điền.

Thương hiệu "Thủ phủ muối" trăm năm

Gắn liền với lịch sử hình thành hơn 100 năm, muối Bạc Liêu từng nổi danh khắp nơi với tên gọi lịch sử muối Ba Thắc, trong đó, Ba Thắc là từ cổ chỉ vùng đất Nam sông Hậu, trở thành niềm tự hào của bao thế hệ người làm muối nơi đây.

Thật vậy, nghề làm muối Ba Thắc phản ánh một phần lịch sử khai phá vùng đất Bạc Liêu trong tiến trình cha ông đi mở đất phương Nam, công cuộc chinh phục thiên nhiên, tạo dựng cuộc sống của nhiều thế hệ nối tiếp nhau.

Nghề muối và thương hiệu muối Bạc Liêu còn là đề tài của nhiều tác phẩm văn học dân gian. Theo đó, bao đời nay, dù vất vả, nhọc nhằn, diêm dân Bạc Liêu vẫn “chung tình” với muối. Người dân xứ này thương hạt muối bằng một tình yêu mãnh liệt, như soạn giả Ngô Hồng Khanh thể hiện qua những lời ca trong bài vọng cổ "Biển cạn": “Muối Long Điền mặn nghĩa thủy chung”; “cá kèo kho muối Bạc Liêu, lấy chồng quê biển thêm yêu Gành Hào”...

Trải qua hành trình trăm năm, đến nay, nghề làm muối ở Bạc Liêu đã đạt 3 giá trị từ kinh tế, xã hội đến văn hóa, thể hiện rõ nét các giá trị của một nghề thủ công truyền thống của người Việt.

Gìn giữ, lưu truyền qua nhiều thế hệ

Vụ muối của diêm dân Bạc Liêu diễn ra vào mùa nắng gắt, trong khoảng 5 tháng, bắt đầu từ đầu tháng 11. Quy trình sản xuất muối Bạc Liêu được hình thành và truyền qua nhiều thế hệ, đến nay những quy trình kỹ thuật cơ bản vẫn được duy trì và áp dụng như những yêu cầu bắt buộc, từ lấy nước, chứa nước và làm tăng độ mặn cần thiết, phơi kết tinh và thu hoạch.

Đầu tiên diêm dân phải thực hiện biện pháp cải tạo mặt ruộng và gia cố nền. Ruộng được làm sạch cỏ rác, các lớp mùn và các chất bẩn khác. Sau đó tiến hành san và dầm nền, xử lý công phu. Lớp mặt của nền được gia cố, dầm kết từ đất sét pha cát biển với nước chạt (nước biển đã lọc tạp chất có độ mặn cao hơn nước biển) có nồng độ tăng dần để đạt được độ bằng phẳng và giảm độ thẩm thấu.

Để làm được muối thì một ruộng muối phải có 1 cái trảng chứa nước, 5 hoặc 6 mẫu (ô) để làm tăng độ mặn của nước và sân kết tinh. Nếu muốn có muối sạch hơn thì thêm một ao lắng trước khi đưa vào sân kết tinh. Để có đủ độ mặn và có muối thu hoạch liên tục, diêm dân phân chia diện tích ruộng theo tỷ lệ quy chuẩn.

Diêm dân sử dụng “chang” (dụng cụ cào muối) trong khâu thu hoạch muối. (Ảnh: Tuấn Kiệt/TTXVN)

Hạt muối được sản xuất theo phương pháp truyền thống

Muối Bạc Liêu được sản xuất theo phương pháp truyền thống, phơi nước dạng tĩnh với 4 công đoạn chính: lấy nước, chứa nước, phơi nước, phơi kết tinh. Trong đó, có hai cách phơi kết tinh là phơi kết tinh trên ruộng và phơi kết tinh trên bạt.

Phơi kết tinh trên ruộng thì mặt sân phơi theo kiểu truyền thống, thời gian kết tinh thường từ 10-15 ngày. Trong khi đó, phơi kết tinh dùng bạt nhựa để trải trên mặt sân phơi, nhằm giảm thời gian kết tinh muối (chỉ trong 7-9 ngày), muối có độ trắng, sáng hơn, không có tạp chất, độ ẩm thấp; năng suất cao, chất lượng muối tốt, giá thương phẩm cao.

Sau khi muối kết tinh, diêm dân tiến hành thu gom và bảo quản. Muối được bốc dỡ lên bờ ruộng và che đậy lại bằng tấm che (có thể bằng nylon, lá dừa). Muối được chứa và bảo quản ở những nơi sạch, khô ráo, thoát nước, không được để gần hóa chất hay hàng hóa có khả năng làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng muối.

Các dụng cụ phục vụ cho nghề muối truyền thống ở Bạc Liêu được diêm dân sử dụng như cuốc, mai, trục lăn đất (trục tròn để lăn san làm cho mặt đất bằng phẳng), bàn dẹt đập bờ (một dụng cụ giúp bờ bao xung quanh chắc chắn tránh trường hợp bờ bị vỡ, lở), xẻng xúc muối, chang gom muối, rổ xúc muối, xe chở muối, cầu đẩy xe muối, lu chứa muối,...

Hiện nay, bên cạnh việc cải tiến kỹ thuật như việc sử dụng bạt nhựa để kết tinh muối, một số dụng cụ phục vụ cho nghề muối cũng được diêm dân Bạc Liêu không ngừng nâng cấp như dùng máy bơm thay cho dụng cụ tát nước, dùng xe lăn thay cho trục lăn,... góp phần giảm thiểu việc sử dụng sức lao động của diêm dân, nâng cao năng suất lao động, tăng sản lượng thu hoạch và cải thiện chất lượng muối.

Nghề muối Bạc Liêu - di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Hàng năm, vào các dịp giao mùa thời tiết và cúng Đình, diêm dân Bạc Liêu thường tổ chức cúng trời đất, thần linh cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng thuận lợi.

Trong quá trình sản xuất, ở từng công đoạn làm muối, diêm dân thường tránh những ngày mùng 5, 14, 23 là những ngày kiêng kị cho việc đi lại, hay bắt đầu công việc. Trong ngày đưa nước ót vào sân kết tinh, diêm dân có một nghi lễ với lễ vật đơn giản để cầu trời cho mưa thuận gió hòa...

Sản phẩm muối Bạc Liêu có 3 loại muối, đó là muối bạc, muối trắng và muối đen, lại không có vị đắng và chát như muối ở các vùng biển khác.

Nghề làm muối Bạc Liêu tạo ra sản phẩm không chỉ là hàng hóa thuần túy mà còn là mang tính sáng tạo và phản ánh phong tục, tập quán, tín ngưỡng, điều kiện tự nhiên khác biệt của vùng đất.

Nghề làm muối Bạc Liêu tạo việc làm cho người lao động, góp phần phát triển kinh tế của hộ gia đình và của địa phương, ổn định tình hình kinh tế-xã hội; thể hiện vai trò cố kết cộng đồng trong quá trình sản xuất; vai trò trong việc giáo dục tinh thần lao động hăng say, cần cù, sáng tạo, ý thức trách nhiệm, quý trọng thời gian, xây dựng trách nhiệm trong gìn giữ và phát huy nghề ông cha cũng như văn hóa địa phương... trong bức tranh văn hóa dân tộc.

Nghề làm muối ở Bạc Liêu đã vinh dự được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2020./.

(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục