Trong Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia có nhấn mạnh đến phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của Dân tộc.
Do đó, muốn duy trì tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026-2030, Việt Nam đứng trước yêu cầu chuyển mạnh cách thức tạo ra giá trị. Năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI) cùng khu vực tư nhân đang được đặt vào vị trí trung tâm, hướng tới xây dựng nền tảng nội lực cho mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Ông Nguyễn Quốc Anh, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế-tài chính (Bộ Tài chính), cho biết mục tiêu tăng trưởng 2 con số đặt ra yêu cầu thay đổi cách thức tạo ra tăng trưởng. Do đó, nền kinh tế cần chuyển dần từ việc phụ thuộc nhiều vào gia tăng đầu vào sang dựa vào năng suất, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
“Đây là sự thay đổi có ý nghĩa nền tảng. Khi vốn, đất đai, lao động hay tài nguyên đều có giới hạn, dư địa tăng trưởng bền vững phải đến từ khả năng nâng cao hiệu quả. Một doanh nghiệp sản xuất được nhiều sản phẩm hơn với cùng lượng nguyên liệu, một dây chuyền vận hành hiệu quả hơn nhờ công nghệ hay một dịch vụ tạo thêm giá trị nhờ dữ liệu đều góp phần thay đổi chất lượng tăng trưởng," Phó Viện trưởng Nguyễn Quốc Anh nhấn mạnh.
Một vấn đề được đặt ra là làm thế nào để khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực của tăng trưởng. Việc ứng dụng công nghệ, kể cả trí tuệ nhân tạo, cần gắn với năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh. Giá trị cuối cùng phải được thể hiện trong hoạt động của doanh nghiệp và sức mạnh của nền kinh tế.
Giai đoạn 2021-2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh. Việt Nam đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu kinh tế-xã hội chủ yếu; tăng trưởng GDP bình quân khoảng 6,3%/năm, quy mô GDP năm 2025 vượt 510 tỷ USD, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt khoảng 47%.
Tuy nhiên, quá trình cơ cấu lại vẫn bộc lộ những hạn chế mang tính cơ cấu. Sản xuất và xuất khẩu còn phụ thuộc lớn vào khu vực doanh nghiệp FDI; khả năng tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi giá trị toàn cầu chưa tương xứng với quy mô nền kinh tế. Công nghiệp hỗ trợ, năng lực đổi mới công nghệ, khả năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu và chất lượng nhân lực công nghệ cao tiếp tục là những điểm nghẽn.
Bởi vậy, thách thức trong giai đoạn 2026-2030 không chỉ là “tăng thêm năng lực sản xuất," mà phải nâng cấp chất lượng của năng lực sản xuất hiện hữu, gia tăng giá trị nội địa và hình thành những năng lực công nghệ có tính tự chủ.
Tiến sỹ Cấn Văn Lực, chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, phân tích sự dịch chuyển mang tính bước ngoặt từ mô hình tập trung vào “lượng” sang mô hình phát triển tập trung vào “chất." Ông Lực nhận định trong giai đoạn tới, Việt Nam cần xác lập một hệ quy chiếu mới, nơi mà tăng trưởng GDP song hành cùng việc nâng cao mức sống và công bằng xã hội.
Theo tính toán của ông Lực, để hiện thực hóa kịch bản tăng trưởng cao, đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) phải đạt mức trên 55% thay vì dựa vào gia tăng khối lượng vốn hay lao động. Đi kèm với đó là yêu cầu cải thiện hiệu suất đầu tư thông qua việc đưa hệ số ICOR (hiệu quả sử dụng vốn đầu tư) về mức 4 đến 4,2 lần. Ông Lực khẳng định thể chế thực thi cùng với hạ tầng và giáo dục sẽ là những điều kiện đủ để khơi thông các nguồn lực hiệu quả.
Còn Tiến sỹ Phạm Đình Nguyên, Giám đốc Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), đề xuất một cấu trúc mô hình tăng trưởng theo ba tầng logic. Tầng cốt lõi là việc nâng cấp các ngành hiện hữu như nông nghiệp công nghệ cao cùng với dịch vụ logistics số. Tầng đột phá tập trung vào các lĩnh vực mới có chọn lọc như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn và công nghệ sinh học. Tầng nền tảng chính là hạ tầng số cùng với dữ liệu và nhân lực chất lượng cao.
“Khoa học công nghệ không nên được coi là một lĩnh vực chính sách riêng biệt mà phải trở thành năng lực xuyên suốt mọi ngành kinh tế; trong đó, Nhà nước cần đóng vai trò dẫn dắt bằng cách chấp nhận rủi ro trong đầu tư chiến lược, đồng thời tạo ra thị trường thông qua các đơn đặt hàng sản phẩm công nghệ nội địa," Tiến sỹ Phạm Đình Nguyên nhấn mạnh.
Thạc sỹ Lê Thị Mai Liên, Trưởng ban, Ban Kinh tế vĩ mô và Dự báo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế-tài chính (Bộ Tài chính), chỉ ra Việt Nam đang đứng trước một "bước nhảy vọt" về các chỉ tiêu kinh tế số. Bà Liên đưa ra kịch bản đầy thách thức khi tỷ trọng kinh tế số cần tăng từ mức 14% năm 2025 lên đến 30% vào năm 2030.
Để đạt được những mục tiêu trên, chuyên gia từ Bộ Tài chính đề xuất chuyển đổi mạnh mẽ tư duy quản lý từ kiểm soát sang kiến tạo; cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cần được mở rộng cho công nghệ và mô hình kinh doanh mới; nguồn lực cần được phân bổ theo hiệu quả và năng suất. Bên cạnh đó là phát triển doanh nghiệp tư nhân có khả năng dẫn dắt, xây dựng dữ liệu và AI thành hạ tầng sản xuất mới.
Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế-tài chính cũng chỉ ra, mục tiêu nâng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) lên trên 55%, cùng yêu cầu cải thiện hệ số ICOR, đang đặt trọng tâm vào hiệu quả. Do đó, nền kinh tế cần tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một lượng nguồn lực.
Vai trò của Nhà nước vì thế cũng cần được đặt trong một cách tiếp cận mới. Nhà nước có nhiệm vụ bảo đảm ổn định vĩ mô, hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng, nâng chất lượng nguồn nhân lực, khơi thông các thị trường yếu tố sản xuất và tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp đổi mới. Hiệu quả của chính sách sẽ quyết định tốc độ chuyển hóa nguồn lực thành năng lực phát triển.
Tăng trưởng 2 con số đòi hỏi sự cộng hưởng giữa thể chế, vốn dài hạn, hạ tầng hiện đại, doanh nghiệp cạnh tranh, nhân lực chất lượng cao và khoa học công nghệ. Giai đoạn 2026-2030 cần tạo bước chuyển trong phân bổ nguồn lực, nâng năng suất, thúc đẩy đổi mới, qua đó tạo nền tảng để Việt Nam hướng tới nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045./.