Trước tác động của biến đổi khí hậu, nhu cầu sử dụng nước gia tăng và áp lực phát triển vùng hạ du, bảo đảm an toàn hồ Dầu Tiếng đặt ra yêu cầu cao hơn trong quản lý, vận hành và bảo vệ công trình.
Cùng với hoàn thiện thể chế, quy hoạch hành lang thoát lũ, tăng cường quan trắc, dự báo chất lượng nước và hiện đại hóa hệ thống giám sát là những giải pháp quan trọng, góp phần bảo đảm an toàn hồ chứa, phát huy hiệu quả đa mục tiêu và an ninh nguồn nước khu vực Đông Nam Bộ.
Đặt an toàn công trình lên hàng đầu
Hồ Dầu Tiếng là công trình thủy lợi đặc biệt quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, có dung tích thiết kế 1,58 tỷ mét khối, diện tích mặt nước khoảng 270 km², nằm trên địa bàn Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai. Hệ thống gồm hơn 300 hạng mục, khoảng 150 km kênh trục, giữ vai trò quan trọng trong cấp nước sản xuất, dân sinh và điều tiết nguồn nước khu vực.
Theo ông Trần Quang Hùng, Tổng Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khai thác thủy lợi Miền Nam, từ năm 2015-2016, Công ty đã đo đạc, cắm mốc ranh giới đất công trình từ cao trình +24,4 m trở xuống và bàn giao địa phương phối hợp quản lý.
Tuy nhiên, quy định phạm vi bảo vệ hồ từ cao trình đỉnh đập phụ +27 m trở xuống còn gây vướng mắc trong quản lý tài sản công, sử dụng đất vùng bán ngập. Công ty kiến nghị điều chỉnh quy định phù hợp thực tiễn, vừa bảo đảm an toàn công trình, vừa bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân.
Đáng lưu ý, năng lực thoát lũ vùng hạ du đang suy giảm do nhiều đoạn sông Sài Gòn bị thu hẹp bởi lấn chiếm, bồi lắng, có nơi chỉ còn 40-90m. Dù hồ được thiết kế xả lũ tối đa 2.800 m³/giây, đơn vị quản lý hiện chỉ có thể chủ động vận hành không quá 200 m³/giây để bảo đảm an toàn.
Trên cơ sở cân bằng nguồn nước năm 2026, Công ty đề xuất tích nước cuối mùa mưa ở cao trình khoảng +24m, thấp hơn mực nước dâng bình thường 40 cm, đồng thời nâng mức xả an toàn lên khoảng 300 m³/giây, qua đó tăng dung tích phòng lũ, chủ động ứng phó mưa lũ cực đoan và bảo đảm nguồn nước mùa khô.
Theo ông Vũ Văn Thìn, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi Thành phố Hồ Chí Minh, vai trò của hồ Dầu Tiếng ngày càng vượt ra ngoài phạm vi một công trình thủy lợi, có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế-xã hội, an ninh nguồn nước và phòng, chống thiên tai của khu vực. Thành phố Hồ Chí Minh đang xây dựng Đề án phát triển đa mục tiêu hồ chứa nước Dầu Tiếng giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Theo ông Vũ Văn Thìn, khó khăn hiện nay là hệ thống đê điều trên sông Sài Gòn chưa được quy hoạch hoàn chỉnh. Vì vậy, cần sớm xác định mực nước lũ và lưu lượng lũ thiết kế để các địa phương có cơ sở xây dựng quy hoạch phòng, chống lũ, phát triển hệ thống đê điều phù hợp.
“Điều quan trọng hiện nay là Bộ sớm hướng dẫn cụ thể về mực nước lũ và lưu lượng lũ thiết kế trên sông Sài Gòn để các địa phương có cơ sở xây dựng quy hoạch phòng chống lũ, phát triển hệ thống đê điều phù hợp”, ông nhấn mạnh.
Cùng với đó, cần rà soát quy hoạch phòng, chống lũ theo bản đồ ngập lụt mới được phê duyệt, bổ sung mốc chỉ giới hành lang thoát lũ, giải tỏa các vị trí lấn chiếm và nạo vét các đoạn bồi lắng, nhất là khu vực từ sau đập đến cầu Bến Súc. Đây là những giải pháp cần thiết nhằm nâng cao năng lực tiêu thoát lũ, đồng thời tạo không gian an toàn cho vùng hạ du trước diễn biến thời tiết ngày càng cực đoan.
Chủ động nguồn nước
Dưới góc độ chuyên môn, ông Đặng Thanh Lâm, Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, dự báo mùa lũ năm 2026 tổng lượng nước về hồ khoảng 1,945 tỷ m³, thấp hơn năm trước, lưu lượng đỉnh lũ khoảng 475 m³/giây. Do ảnh hưởng của El Niño, dòng chảy có khả năng suy giảm khá lớn, nên phương án tích nước ở cao trình khoảng +24 m được đánh giá phù hợp, vừa bảo đảm an toàn công trình, vừa chủ động nguồn nước mùa khô.
“Trong trường hợp lượng mưa tiếp tục giảm như năm 2025 thì hồ có thể không phải xả lũ mà cần giữ lại toàn bộ lượng nước để bảo đảm cấp nước cho mùa khô”, ông Lâm nhận định.
Theo ông, công tác dự báo hiện còn độ trễ do số liệu dòng chảy thường được tổng hợp sau khoảng một ngày. Vì vậy, cần đầu tư hệ thống quan trắc tự động dòng chảy đến hồ và mực nước hạ du để nâng cao độ chính xác dự báo, hỗ trợ vận hành linh hoạt, hạn chế nguy cơ ngập lụt.
Viện cũng kiến nghị nghiên cứu xả nước qua các tuyến kênh tưới kết nối sông Vàm Cỏ Đông, giảm lưu lượng xả xuống hạ du; đồng thời nghiên cứu nâng cao đập, mở rộng dung tích phòng lũ và khai thác hồ Dầu Tiếng theo hướng đa mục tiêu.
Từ góc độ quản lý nhà nước, ông Nguyễn Tùng Phong, Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, khẳng định nhiệm vụ trước hết là phải bảo đảm tuyệt đối an toàn công trình. Trong bối cảnh El Nino có thể kéo dài đến đầu năm 2027, các đơn vị cần theo dõi sát diễn biến thời tiết, dự báo nguồn nước để vận hành linh hoạt, cân đối giữa tích nước phục vụ sản xuất và bảo đảm an toàn hồ chứa.
Cùng với an toàn đập và khả năng điều tiết, chất lượng nguồn nước cũng đang trở thành một yếu tố quan trọng trong vận hành hệ thống Dầu Tiếng-Phước Hòa. Kết quả theo dõi của Viện Kỹ thuật biển từ năm 2018 đến nay cho thấy chất lượng nước khu vực lòng hồ Dầu Tiếng duy trì ở mức khá đến tốt, với chỉ số chất lượng nước dao động từ 83-94 điểm. Dung tích khoảng 1,58 tỷ m3 giúp hồ có khả năng pha loãng, lắng đọng và tự làm sạch, dù nguồn nước vẫn chịu tác động từ sản xuất, nuôi trồng thủy sản và sinh hoạt trên lưu vực.
Thực tế, các bản tin quan trắc đang trở thành một nguồn thông tin quan trọng phục vụ trực tiếp vận hành. Ông Nguyễn Hữu Mạnh, Giám đốc Chi nhánh Dầu Tiếng-Phước Hòa, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khai thác thủy lợi Miền Nam, cho biết các bản tin hiện cung cấp thông tin hiện trạng và dự báo chất lượng nước tại 22 vị trí quan trắc, theo dõi nhiều chỉ tiêu như ôxy hòa tan, độ mặn, nhu cầu ôxy sinh hóa và tổng nitơ. Qua đó, đơn vị có thể chủ động xây dựng phương án lấy nước, điều hành công trình và phối hợp xử lý nguồn nước phù hợp phục vụ sản xuất, cấp nước sinh hoạt.
Theo ông Nguyễn Hữu Mạnh, dù chưa ghi nhận trường hợp phải thay đổi lịch mở cống chỉ vì chất lượng nước, các bản tin vẫn đưa ra nhiều cảnh báo có giá trị thực tiễn, như kiểm soát nguồn thải tại suối Xa Cách trước khi nhập lưu vào kênh Chính Tây hay theo dõi độ mặn để phục vụ vận hành hồ xả nước kiểm soát xâm nhập mặn trên sông Sài Gòn, bảo đảm nguồn nước thô cho các nhà máy nước trong khu vực; trong đó có Nhà máy nước Tân Hiệp.
“Với một hệ thống thủy lợi có quy mô lớn như Dầu Tiếng-Phước Hòa, việc vận hành không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm mà cần có cơ sở khoa học từ các kết quả quan trắc và dự báo. Điều này giúp đơn vị chủ động hơn trong điều hành công trình, đồng thời góp phần bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất, dân sinh và môi trường”, ông Nguyễn Hữu Mạnh cho biết.
Trong điều kiện biến đổi khí hậu tiếp tục tạo ra những diễn biến khó lường, bảo đảm an toàn hồ Dầu Tiếng không thể chỉ được nhìn nhận từ góc độ an toàn đập mà cần đặt trong tổng thể bài toán an ninh nguồn nước, phòng chống lũ, bảo vệ chất lượng nước và khai thác đa mục tiêu.
Việc hoàn thiện thể chế, quy hoạch đồng bộ hành lang thoát lũ, hiện đại hóa hệ thống quan trắc, nâng cao năng lực dự báo và tăng cường phối hợp liên vùng sẽ tạo nền tảng để hồ Dầu Tiếng vận hành chủ động, an toàn hơn. Qua đó, công trình tiếp tục phát huy vai trò chiến lược trong bảo đảm nguồn nước, phòng chống thiên tai và phục vụ phát triển kinh tế-xã hội bền vững của khu vực Đông Nam Bộ./.