Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu chiến lược đến năm 2030 ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP và tầm nhìn năm 2045 quy mô sản phẩm công nghiệp văn hóa số chiếm trên 80%, sở hữu trí tuệ cần được nhìn nhận là một bộ phận của hạ tầng thể chế cho kinh tế số, kinh tế tri thức và phát triển văn hóa.
Đó là nhận định của Tiến sỹ Phan Văn Hùng, Phó Tổng Biên tập Báo Nhân Dân trong phát biểu đề dẫn Hội thảo “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số-Khơi thông điểm nghẽn, phát triển văn hóa số” diễn ra ngày 27/8, tại Hà Nội do Báo Nhân Dân tổ chức.
Còn những khoảng trống về pháp lý
Số liệu thực tế từ Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) cho thấy năm 2025 doanh thu tiền sử dụng tác quyền đạt hơn 424,3 tỷ đồng (tăng 8%), trong đó riêng từ website và ứng dụng số đã mang về gần 298 tỷ đồng.
Những con số trên cho thấy tài sản trí tuệ trên môi trường số đang ngày càng trở thành một nguồn lực kinh tế quan trọng. Tuy nhiên, sự bùng nổ này cũng đi kèm với nguy cơ thất thoát bản quyền lớn nếu quyền sở hữu không rõ ràng.
Theo Tiến sỹ Phan Văn Hùng, Phó Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, động lực chủ yếu cho phát triển nhanh, bền vững.
Bên cạnh đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW, Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 và Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 hướng tới khai thác nguồn lực sáng tạo, hình thành thị trường cho sản phẩm trí tuệ và xây dựng hệ sinh thái từ Sáng tạo-Sở hữu-Phân phối.
“Trong môi trường số, nội dung có thể bị sao chép, phát tán rất nhanh, bị gỡ ở nơi này lại xuất hiện ở nơi khác. Nếu cơ chế bảo vệ vẫn phản ứng theo từng vụ việc trong khi vi phạm diễn ra bằng công nghệ ở quy mô lớn thì chúng ta khó theo kịp thực tiễn. Thể chế cần đi trước một bước, vừa bảo đảm quản lý, vừa khuyến khích đổi mới sáng tạo, loại bỏ tư duy ‘không quản được thì cấm’,” Tiến sỹ Phan Văn Hùng nêu vấn đề.
Từ góc độ của cơ quan lập pháp, Tiến sỹ Hoàng Minh Hiếu, Ủy viên chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội cho rằng pháp luật hiện hành còn có những khoảng trống nhất định đối với việc xác định trách nhiệm pháp lý khi đầu ra có sử dụng hệ thống AI có vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Theo ông Hiếu phân tích, để một hệ thống trí tuệ nhân tạo có thể học các mẫu, cấu trúc ngữ pháp, phong cách nghệ thuật và logic giải quyết vấn đề, nó cần một khối lượng dữ liệu đầu vào khổng lồ. Quá trình thu thập dữ liệu tự động từ Internet và huấn luyện mô hình thực chất bao hàm hành vi sao chép rất nhiều tác phẩm đang được bảo hộ quyền tác giả, bao gồm sách, báo, tranh ảnh, video và mã nguồn phần mềm.
Câu hỏi đặt ra là việc sử dụng tác phẩm có bản quyền để huấn luyện trí tuệ nhân tạo mà không xin phép và không trả tiền có cấu thành hành vi xâm phạm quyền tác giả hay không.
Vấn đề thứ hai là liệu tác phẩm văn học, nghệ thuật, mã nguồn phần mềm hoặc giải pháp kỹ thuật do trí tuệ nhân tạo tạo ra có được bảo hộ hay không và nếu được bảo hộ thì ai là chủ sở hữu hợp pháp: Nhà phát triển thuật toán, người sử dụng câu lệnh, hay chính hệ thống trí tuệ nhân tạo.
Từ đó, ông Hiếu cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cũng như tăng cường hiệu quả thực thi của các quy định hiện hành và bảo đảm nguồn lực để quy định đi vào đời sống. Thực hiện đầy đủ các vai trò đó là điều kiện để quyền sở hữu trí tuệ trở thành một hạ tầng mềm vững chắc, thúc đẩy nền kinh tế số Việt Nam phát triển an toàn, nhân văn và tự chủ trong hội nhập quốc tế.
Định danh, số hóa tài sản trí tuệ
Tại Hội thảo, các diễn giả đã cùng hiến kế giải pháp gỡ điểm nghẽn phát triển văn hóa số. Đáng chú ý là đề xuất khẩn trương hiện thực hóa Nghị định số 277/2026/NĐ-CP về hạ tầng văn hóa số nhằm thiết lập hệ thống quản lý, bảo vệ bản quyền số liên thông quốc gia, sàn giao dịch bản quyền số minh bạch nhằm trả lời rõ ràng ba câu hỏi: Ai sở hữu? Ai có quyền sử dụng? Dòng tiền đi về đâu?
Ông Phạm Văn Tài, Tạp chí Sở hữu Trí tuệ và Sáng tạo dẫn chứng thực chứng từ vụ việc của BH Media, chỉ ra các “điểm mờ” mà các đơn vị lạm dụng để khai thác bất hợp pháp tác quyền âm nhạc trên các nền tảng mạng xã hội.
Ông Tài phân tích 3 khoảng trống dẫn đến vi phạm nghiêm trọng nói trên. Thứ nhất là khoảng trống kỹ thuật: Hệ thống Content ID nhận diện dựa trên so khớp âm thanh, không thẩm định tính hợp pháp của việc đăng ký. Thứ hai là khoảng trống pháp lý như ông Hiếu đã phân tích. Thứ ba là khoảng trống thực thi: Một kênh nhỏ, một nghệ sỹ độc lập gần như không có đủ nguồn lực để theo đuổi khiếu nại dài hơi.
“Muốn khơi thông điểm nghẽn của văn hóa số, chúng ta không chỉ cần một cơ chế để bảo vệ quyền, mà cần một hạ tầng để quyền được định danh, được kết nối, được giao dịch và tạo ra giá trị,” ông Tài nói.
Cụ thể, ông Tài cho rằng cần mỗi tài sản trí tuệ cần có một dấu vết quyền rõ ràng; định danh được tác phẩm, chủ thể quyền, phạm vi quyền và lịch sử sử dụng. Có như vậy mới chứng minh, cấp phép và khai thác được.
Cùng với đó, cần một nền tảng trung gian, kết nối người có quyền-người sử dụng-tổ chức đại diện-công nghệ-cơ quan quản lý. Mục tiêu cuối cùng là biến quyền thành tài sản có thể khai thác. Và quan trọng nhất là tạo được thị trường quyền hợp pháp trên môi trường số. Các yếu tố này là những cấu phần quan trọng của hạ tầng số trong nền kinh tế số.
Cùng quan điểm đó, ông Bùi Minh Tuấn, Chủ tịch Hội đồng quản trị, nhà sáng lập Công ty cổ phần Công nghệ Dipnet giới thiệu giải pháp ứng dụng công nghệ chuỗi khối (blockchain) để định danh số cho tác phẩm, tự động hóa việc rà quét và phân phối doanh thu bản quyền trực tiếp tới nhà sáng tạo theo thời gian thực.
“Mô hình giải pháp này đóng vai trò quyết định trong việc bảo vệ dòng tiền bản quyền của tác giả, bảo đảm nguồn thu ngân sách cho Nhà nước, khơi thông dòng vốn tín dụng cho doanh nghiệp sáng tạo, đồng thời nâng cao vị thế và uy tín thực thi các cam kết quốc tế của Việt Nam trên bản đồ kinh tế sáng tạo toàn cầu,” ông Tuấn nói.
Từ góc độ quản lý nhà nước, ông Quản Tuấn An, Trưởng Phòng Quản lý và hợp tác quốc tế, Cục Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng thị trường quyền tác giả, quyền liên quan minh bạch, hiệu quả và thích ứng với môi trường số.
“Yêu cầu đặt ra đối với hoạt động tập thể quyền tác giả, quyền liên quan trong giai đoạn tới không chỉ là tiếp tục nâng cao năng lực của từng tổ chức quản lý tập thể, mà cần từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý, hạ tầng thông tin để hình thành thị trường cấp phép quyền tác giả, quyền liên quan minh bạch, thuận lợi và có khả năng thích ứng với sự phát triển của môi trường số,” ông Quản Tuấn An nêu rõ.
Theo đó, cần chuẩn hóa trách nhiệm giải trình của CMO đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quản trị dữ liệu của CMO cần được xác định là một nghĩa vụ pháp lý cốt lõi chứ không chỉ là yêu cầu kỹ thuật nội bộ.
Đối với hợp tác quốc tế, cần xây dựng cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc CMO Việt Nam ký kết và thực hiện thỏa thuận đại diện đối ứng với CMO nước ngoài.
Cùng với đó, cần thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp về tiền bản quyền đối với tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình hoặc chương trình phát sóng do CMO quản lý./.
Tăng chế tài xử lý hành vi xâm phạm quyền, vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ
Quyết định số 1624/QĐ-TTg sửa đổi Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030 nhấn mạnh quan điểm: tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và toàn xã hội.