Kinh tế bạc châu Á mở ra thị trường tiêu dùng trị giá hàng nghìn tỷ USD

Theo ước tính, đến năm 2030, khoảng 733 triệu người từ 60 tuổi trở lên tại 14 thị trường châu Á-Thái Bình Dương dự kiến nắm giữ 7.100 tỷ USD tài sản tiết kiệm, mở ra dư địa lớn cho kinh tế bạc.

Tọa đàm “Kinh tế bạc và mô hình chăm sóc người cao tuổi” tại Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Đinh Hằng/TTXVN)
Tọa đàm “Kinh tế bạc và mô hình chăm sóc người cao tuổi” tại Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Đinh Hằng/TTXVN)

Theo ước tính trong một báo cáo mới đây do liên minh Ageing Asia chuyên về kinh doanh và đổi mới trong lĩnh vực già hóa dân số và Đại học Quản lý Singapore phối hợp thực hiện, tính đến năm 2030, 14 thị trường thuộc khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ có khoảng 733 triệu người từ 60 tuổi trở lên, nắm giữ khối tài sản tiết kiệm trị giá 7.100 tỷ USD.

Tác giả chính của báo cáo, bà Janice Chia, nhận định rằng tuổi thọ và chất lượng sống của con người vừa là thách thức nhân đạo lớn nhất, vừa là cơ hội thương mại lớn nhất của khu vực.

Một trong những phát hiện then chốt trong báo cáo cho thấy ngành chăm sóc người cao tuổi trên thực tế đang chia thành hai thị trường riêng biệt.

Thị trường đầu tiên đã định hình vững chắc và được báo cáo gọi là "nền kinh tế chăm sóc." Lĩnh vực này bao gồm y tế, chăm sóc tại nhà, hỗ trợ sinh hoạt và các dịch vụ dành cho người mắc chứng mất trí nhớ, phục vụ nhóm đối tượng từ 75 tuổi trở lên.

Tuy nhiên, vượt ra ngoài "nền kinh tế chăm sóc" là những cơ hội thị trường đầy tiềm năng chưa được khai phá.

Báo cáo chỉ ra rằng y tế cùng với du lịch-lữ hành sẽ là hai lĩnh vực chi tiêu hàng đầu của nhóm người từ 60 tuổi trở lên vào năm 2030. Điều này cho thấy nền kinh tế bạc không chỉ dừng lại ở các dịch vụ chăm sóc y tế hay sinh hoạt.

Chính vì thế, báo cáo gợi mở về sự tồn tại của thị trường thứ hai mang tên "nền kinh tế tiêu dùng," bao gồm các lĩnh vực như du lịch, chăm sóc sức khỏe chủ động, phong cách sống, dịch vụ trải nghiệm và du lịch dành cho người cao tuổi.

Nhóm người từ 60-75 tuổi hiện là những đối tượng có cả thời gian, sức khỏe lẫn tài chính. Cũng theo báo cáo, các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc người cao tuổi hiện chưa chú trọng đến nền kinh tế tiêu dùng.

Báo cáo cho rằng những doanh nghiệp biết kết nối cả hai thị trường - vừa cung cấp các dịch vụ phong cách sống cho người cao tuổi còn khỏe, vừa chuyển tiếp họ sang các dịch vụ chăm sóc khi nhu cầu thay đổi theo thời gian - sẽ sở hữu giá trị vòng đời khách hàng lâu dài nhất và duy trì vị thế cạnh tranh vững chắc nhất tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Bên cạnh đó, báo cáo nhấn mạnh việc đảm bảo mức giá phù hợp với khả năng tài chính của tầng lớp trung lưu là ưu tiên hàng đầu của thị trường.

Nhiều người cao tuổi có thu nhập vượt quá điều kiện để nhận các dịch vụ chăm sóc được trợ cấp nhưng lại không đủ khả năng chi trả cho các dịch vụ tư nhân đắt đỏ, đặc biệt là về lâu dài.

Báo cáo nhấn mạnh, chìa khóa để lấp đầy khoảng cách này không phải là hạ giá dịch vụ, mà nằm ở các giải pháp tài chính đổi mới. Vì thế, những doanh nghiệp biết kết hợp mô hình chăm sóc với các công cụ tài chính linh hoạt - như bảo hiểm chăm sóc dài hạn, thế chấp ngược, gói phúc lợi dưỡng lão từ nhà tuyển dụng hay cơ chế đồng chi trả theo mức thu nhập - sẽ tạo được lợi thế cạnh tranh vượt trội so với các đơn vị chỉ thuần túy cung cấp dịch vụ.

Nhìn chung, các đại diện tham gia khảo sát đều đưa ra đánh giá tích cực về nền kinh tế bạc. Phần lớn ý kiến (85%) dự báo nền kinh tế bạc tại châu Á-Thái Bình Dương sẽ tăng trưởng mạnh mẽ hoặc ổn định trong giai đoạn 2026-2030.

Tại châu Á-Thái Bình Dương, báo cáo xếp Singapore, Nhật Bản, Hong Kong (Trung Quốc), Australia và New Zealand vào nhóm các thị trường có nguồn vốn dồi dào, các đơn vị vận hành trưởng thành và sở hữu các mô hình có thể xuất khẩu.

Đối với các nền kinh tế tiên tiến về công nghệ như Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc), báo cáo nhận định cơ hội thị trường sẽ đến từ robot chăm sóc, thiết bị đeo thông minh, cảm biến nhà thông minh và các phần cứng y tế kỹ thuật số./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục

Khách quốc tế đến Việt Nam tăng 14,5% trong 9 tháng

Khách quốc tế đến Việt Nam tăng 14,5% trong 9 tháng

Chính sách thị thực thuận lợi, công tác xúc tiến, quảng bá được đẩy mạnh, sản phẩm du lịch đa dạng cùng với lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, văn hóa là những yếu tố chính thu hút du khách quốc tế.