Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk vừa ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị định số 269/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh, nhằm kịp thời bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa gắn với giáo dục, phát triển du lịch cộng đồng và tạo sinh kế bền vững cho người dân.
Đắk Lắk hiện có 49 dân tộc anh em cùng chung sống trên địa bàn tỉnh, bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc rất phong phú, đa dạng và độc đáo, góp phần làm giàu cho bản sắc văn hóa Tây Nguyên.
Ngoài những nét văn hóa đặc sắc của các dân tộc thiểu số tại chỗ như Êđê, M’nông, Gia Rai, Xê Đăng, Ba Na... còn có sự hiện diện của dân tộc các tỉnh phía Bắc di cư vào như Mường, Tày, Nùng, Dao, H’mông... Sự đa dạng các dân tộc cũng tạo nên văn hóa cộng đồng hội tụ từ văn hóa nhà dài (Êđê, M'nông) với văn hóa nhà rông (Gia Rai, Ba Na, Xơ Đăng) cùng nền văn hóa nhà sàn của các dân tộc thiểu số phía Bắc và văn hóa đình làng của người Việt.
Bên cạnh đó, nền văn hóa cồng chiêng khá độc đáo của các dân tộc thiểu số; đó là sự hội nhập của dàn chiêng K'nah (Êđê), Goong la, Goong pế (M'nông), Arap (Xơ Đăng, Gia Rai) và các dàn chiêng của đồng bào Vân Kiều, Mường, Thái rộn rã trầm hùng, ngân vang, tạo thành một bản hợp xướng giàu âm điệu của núi rừng Tây Nguyên.
Ngoài ra, âm nhạc của các dân tộc thiểu số Đắk Lắk rất phong phú, đa dạng, giàu bản sắc với hàng trăm làn điệu dân ca (lời nói vần) và trên 100 loại nhạc cụ khác nhau; mỗi loại nhạc cụ đều có những nét độc đáo, hấp dẫn riêng. Đó còn là những lễ hội vô cùng quan trọng trong đời sống văn hóa cộng đồng của mỗi dân tộc như lễ cúng cầu mưa, ăn cơm mới, cúng bến nước, đặt tên, thổi tai, cúng sức khỏe, kết nghĩa anh em... của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. Không chỉ thế, bức tranh đa sắc màu văn hóa của các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh còn thể hiện qua nghệ thuật tạo hình, kiến trúc, thủ công, mỹ nghệ, văn hóa ẩm thực, trang phục, phong tục tập quán...
Việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số sẽ góp phần khai thác tiềm năng, lợi thế phát triển du lịch của tỉnh, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.
Kế hoạch lấy cộng đồng các dân tộc thiểu số làm chủ thể, trung tâm, tôn trọng tính xác thực, toàn vẹn, đặc trưng văn hóa và không làm sai lệch hay thương mại hóa không phù hợp các giá trị văn hóa truyền thống.
Đồng thời, ưu tiên các văn hóa có nguy cơ mai một, địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng đặc biệt khó khăn. cộng đồng dân tộc thiểu số rất ít người và hộ nghèo, hộ cận nghèo.
Để đạt được mục tiêu trên, Kế hoạch đề ra 11 nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm với lộ trình triển khai chi tiết. Trong quý 3/2026, tổ chức phổ biến, quán triệt nội dung Nghị định đến các cơ quan, đơn vị, địa phương, cơ sở giáo dục và cộng đồng dân cư, đồng thời tập huấn kỹ năng rà soát, lập hồ sơ, xây dựng dự án cho đội ngũ công chức cấp xã và đại diện cộng đồng.
Tỉnh sẽ thực hiện mức hỗ trợ trực tiếp cho chủ thể văn hóa nòng cốt (400.000 đồng/người/buổi) và chủ thể văn hóa kế cận (300.000 đồng/người/buổi) khi tham gia hoạt động thực hành, trao truyền do cơ quan nhà nước tổ chức (tối đa không quá 20 buổi/chương trình).
Đồng thời, rà soát để tham mưu Hội đồng Nhân dân tỉnh quy định mức hỗ trợ hằng tháng và mức hỗ trợ tối đa cho các dự án do tổ, nhóm cộng đồng thực hiện, hoàn thành trong quý 4/2026.
Ủy ban Nhân dân các xã, phường tổ chức rà soát bước đầu, lập hồ sơ đề nghị phê duyệt danh mục văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một, danh mục không gian văn hóa, làng, bản, buôn truyền thống cần bảo tồn, danh sách chủ thể văn hóa nòng cốt và chủ thể văn hóa kế cận trước ngày 30/10/2026.
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thẩm định, trình Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh phê duyệt trong quý 4/2026.
Hướng dẫn các tổ, nhóm cộng đồng xây dựng dự án phục hồi, bảo tồn văn hóa gắn với du lịch và sinh kế từ năm 2027. Triển khai mô hình không gian trải nghiệm văn hóa trong các cơ sở giáo dục (nhất là trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú) và tại khu dân cư từ năm học 2026 - 2027.
Xây dựng dữ liệu nền từ năm 2026, số hóa, tích hợp thông tin vào cơ sở dữ liệu di sản văn hóa, từng bước hình thành bản đồ số và các sản phẩm truyền thông đa ngôn ngữ phục vụ quản lý, quảng bá và trải nghiệm.
Kinh phí thực hiện Kế hoạch được bảo đảm từ ngân sách nhà nước theo phân cấp, nguồn kinh phí các Chương trình mục tiêu quốc gia, nguồn lồng ghép và huy động xã hội hóa hợp pháp.
Đối với các nhiệm vụ trong năm 2026, các địa phương, đơn vị chủ động bố trí trong dự toán đã được giao và lồng ghép các nguồn lực hợp pháp để triển khai kịp thời.
Theo đó, Ủy ban Nhân dân tỉnh giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch làm cơ quan đầu mối chủ trì, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra và tổng hợp kết quả báo cáo Ủy ban Nhân dân tỉnh và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Các sở, ban, ngành liên quan và Ủy ban Nhân dân các xã, phường căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao phối hợp triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Kế hoạch này/.
Đắk Lắk có phương án để học sinh vùng xa tiếp cận cơ sở giáo dục thường xuyên
Bà Lê Thị Kim Oanh, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đắk Lắk, cho biết Sở đã có phương án đảm bảo điều kiện để các em được tiếp tục học tập, tránh việc bỏ học do khó khăn về đi lại.