Do có sự tương đồng đặc biệt về lịch sử, kiến trúc và văn hóa nênkhi thăm Cột cờ Hà Nội nhiều người vẫn có cảm giác như đang ở Nam Định và ngượclại khi thăm Cột cờ Nam Định nhiều người tưởng như mình đang ở Thủ đô yêu dấu.
Đầu thế kỷ XIX, sau khi thống nhất quốc gia, các vua triều Nguyễnđã chú ý tới việc xác định địa danh, địa giới hành chính trên toànbộ lãnh thổ Việt Nam. Tiếp đó là việc xây dựng các trụ sở, cơ quan,doanh trại, kho tàng, đặc biệt xây dựng thành lũy ở những trấn, tỉnhquan trọng.
Tại các thành lớn có xây cột cờ, vừa để treo cờ, làm vọng canh,làm lễ đăng quang, lễ mừng thọ các vua triều Nguyễn và các nghi lễkhác. Cột cờ Hà Nội được xây dựng từ năm 1806 đến năm 1812 (sau Cột cờkinh đô Huế); Cột cờ Nam Định xây dựng từ năm 1833 đến năm 1843.
Thời điểm xây dựng Cột cờ Hà Nội, Hà Nội vẫn giữ địa danh là ThăngLong. Do Thăng Long là Bắc thành tổng trấn, thủ phủ của 11 trấn Bắcthành nên quy mô xây dựng thành, trong đó có Cột cờ Hà Nội, chỉ đứngsau kinh đô Huế. Và cũng do vị thế của mình, tỉnh Nam Định có ThànhNam, cột cờ Thành Nam, chỉ đứng sau Hà Nội.
Cột cờ Hà Nội và Cột cờ Nam Định đều ở gần trụ sở cơ quan hànhchính của địa phương. Cột cờ vững chãi, cân đối, uy nghiêm, hài hòa vàcao. Mô hình kiến trúc là một ngọn tháp hình lục lăng, bên trong rỗngcó cầu thang xoắn đưa lên đỉnh.
Cột được đặt trên một bệ vuông lớn hình kim tự tháp ba bậc, babệ. Tại bệ ba có bốn cửa đông, tây, nam, bắc. Cửa bắc có cầu thangxoắn, đi trong cột lên lầu vọng canh, nơi cắm cột và treo cờ. Cửa phíađông, mang tên Nghênh Húc (đón nắng sớm). Phía nam có cửa Hướng Minh(hướng về ánh sáng). Phía tây có cửa Hồi Quang (ánh sáng phảnchiếu). Phía bắc có cửa Cửu An (yên lành).
Thân cột cờ là một khối rỗng hình bát giác (ở cột cờ Hà Nộivà ở Cột cờ Nam Định), trong có xây cầu thang xoáy trôn ốc 54 bậc,được chiếu sáng bằng 39 lỗ hình hoa thị và tám cửa hình dẻ quạt (ởCột cờ Hà Nội), được chiếu sáng bằng 32 lỗ hình hoa thị và một cửahình dẻ quạt (ở Cột cờ Nam Định).
Vọng canh (lầu quan sát và cắm cờ) ở trên cùng là một lầu hìnhtrụ bát giác, tám cạnh, có tám cửa (ở Cột cờ Hà Nội) là một lầuhình trụ tròn, có bốn cửa (ở Cột cờ Nam Định).
Giữa lầu vọng canh có cột trụ cao đến đỉnh nóc dùng để cắmcột cờ. Lầu vọng canh có thể để năm đến sáu người quan sát thoải máiqua tám cửa (ở Cột cờ Hà Nội), bốn cửa (ở Cột cờ Nam Định) về cácphương hướng nội, ngoại thành.
Ở Hà Nội, thời xưa, từ vọng canh có thể nhìn rõ sông Hồng, sôngNhuệ, sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, hồ Tây, hồ Hoàn Kiếm… Ở Nam Định, từvọng canh có thể nhìn sang vùng đất Thái Bình, bên kia sông Hồng, thậmchí tới tận Ninh Bình, bên kia sông Đáy…
Theo dòng lịch sử, Cột cờ Hà Nội và Cột cờ Nam Định đều làvọng gác, là cứ điểm chiến đấu của quân dân Việt Nam chống thực dân(1873-1883) và chống chiến tranh phá hoại của đế quốc (1965-1972), là nơitung bay ngọn quốc kỳ thiêng liêng của dân tộc.
Cột cờ Nam Định được xếp hạng Di tích lịch sử năm 1962. Cột cờHà Nội được xếp hạng Di tích lịch sử năm 1998.
Gần hai thế kỷ qua, Cột cờ Hà Nội, Cột cờ Nam Định đã đứngvững và vươn cao trong mưa bom, bão đạn, mưa, nắng, chứngkiến và là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử của quê hương, đấtnước.
Mỗi năm, Cột cờ Hà Nội và Cột cờ Nam Định đón hàng ngàn lượt du khách tớithăm quan. Hai công trình có giá trị kiến trúc, lịch sử và văn hóa nàymãi là biểu tượng, khơi dậy tình yêu quê hương, đất nước, ý thức tự hàovà quyết tâm sắt đá bảo vệ chủ quyền, độc lập, tự do, hạnh phúc,ấm no của Tổ quốc Việt Nam, nhân dân Việt Nam./.