Khác với các thể loại âm nhạc hàn lâm, nơi người nghe bước vào khán phòng với kiến thức về hòa âm, thuộc lòng tên những nhà soạn nhạc nổi tiếng, Jazz là thứ âm nhạc đầy ngẫu hứng và sự phóng khoáng.
Đôi khi Jazz là nơi vài người đang trò chuyện với nhau bằng âm nhạc và người nghe tình cờ ngồi xuống cạnh họ.
Hành trình từ đường phố đến khán phòng
Có một định kiến khá bền bỉ về Jazz rằng đây là thứ âm nhạc “khó nghe.” Giai điệu vừa tưởng đã bắt được thì nghệ sỹ bỗng rẽ sang chỗ khác. Piano đang đi một đường, saxophone lại kể một câu chuyện khác, tay trống thỉnh thoảng chen vào những nhịp tưởng như chẳng chịu đứng yên.
Thực tế thì Jazz không phức tạp đến thế. Trước khi trở thành một thể loại được giảng dạy trong nhạc viện, nghiên cứu trong sách vở hay vang lên ở những phòng hòa nhạc sang trọng, Jazz từng là âm nhạc của đường phố, quán bar, vũ trường, cộng đồng.
Điều dễ khiến người mới nghe Jazz bối rối chính là thứ tạo nên sức quyến rũ lớn nhất của nó: Sự ngẫu hứng. Trong nhiều dòng nhạc đại chúng, một ca khúc thường có cấu trúc tương đối rõ ràng. Intro (mở đầu), verse (lời chính), chorus (điệp khúc), có thể thêm bridge (cao trào chuyển tiếp) rồi trở về chorus.
Jazz thì lại không đi theo quy luật đó. Một chủ đề giai điệu được đưa ra, sau đó saxophone có thể lấy vài nốt trong chủ đề ấy và đi xa. Piano đáp lại, bass giữ nền nhưng đôi lúc tự kể câu chuyện của mình còn trống không chỉ làm nhiệm vụ giữ nhịp mà liên tục phản ứng với những gì đang xảy ra.
Không ai cần biết từ đầu cuộc trò chuyện sẽ kết thúc ở đâu và Jazz sống bằng những khoảnh khắc ấy.
Trong ngôn ngữ Jazz còn có một truyền thống rất quan trọng là “call and response” (gọi và đáp). Một nhạc cụ cất tiếng, nhạc cụ khác trả lời. Bởi vậy, nghe Jazz không nhất thiết phải cố “hiểu” toàn bộ bản nhạc mà có thể chỉ cần bắt lấy một giai điệu để đi theo.
Lịch sử nhạc Jazz cũng là lịch sử của những con người liên tục tìm cách nói khác biệt. Một trong những người có ảnh hưởng nhất trong lịch sử Jazz từ năm 1920 - Louis Armstrong khiến trumpet và giọng hát trở thành những công cụ kể chuyện. Ella Fitzgerald (nữ ca sỹ nhạc Jazz đã giành 14 giải Grammy) biến khả năng ứng tác bằng giọng hát thành một nghệ thuật gần như không giới hạn. Ca sỹ người Mỹ Billie Holiday không cần một giọng hát đồ sộ để khiến một câu hát mang theo cả một đời sống.
Rồi nhiều thập niên sau, Norah Jones (sinh năm 1979) có thể khiến một thế hệ người nghe tìm đến những hòa âm mang hơi Jazz qua một thứ Pop mềm mại và gần gũi hơn.
Nữ ca sỹ sinh năm 1999 Laufey lại mang đến một câu chuyện thú vị của thời đại streaming. Một cô gái trẻ có thể đưa những âm hưởng Jazz đến với khán giả Gen Z mà không bắt họ phải đi qua một khóa nhập môn lịch sử Jazz trước đó. Điều này chứng minh là Jazz có thể đã hơn một thế kỷ tuổi đời nhưng chưa bao giờ thực sự chịu già đi.
Jazz Hà Nội đang kể câu chuyện của riêng mình
Ở Hà Nội, Jazz từ lâu đã tồn tại bằng một nhịp điệu tương đối lặng lẽ nhưng bền bỉ. Những cái tên như Quyền Văn Minh gắn với nhiều thập niên vun đắp cho đời sống Jazz của thành phố. Những thế hệ tiếp theo như Quyền Thiện Đắc, Nguyễn Thùy Linh, Dattie Do, Quỳnh Nguyễn và nhiều nghệ sỹ trẻ khác tiếp tục tìm cách đưa Jazz đi vào những cuộc đối thoại mới.
Có người giữ gần hơn với truyền thống, có người thử nghiệm với âm nhạc Việt Nam, có người bước sang những vùng giao thoa với Pop, nhạc điện tử hay những hình thức đương đại. Nhờ vậy, Jazz Hà Nội không nhất thiết phải nghe giống New Orleans, New York hay Paris.
Trò chuyện với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, Nhạc sỹ Dương Cầm cho rằng Hà Nội và Jazz có rất nhiều điểm tương đồng. Jazz là âm nhạc của sự tự do, của ứng tác, của đối thoại. Nó luôn tôn trọng những giá trị đã có nhưng không bao giờ ngừng tìm kiếm những điều mới.
Hà Nội cũng vậy. Đây là một thành phố có chiều sâu của lịch sử, của di sản, nhưng đồng thời luôn có khả năng tiếp nhận những dòng chảy văn hóa mới và biến chúng thành một phần của đời sống đô thị.
Vậy nên bắt đầu nghe Jazz từ đâu? Câu trả lời có lẽ là đừng bắt đầu bằng việc học Jazz, hãy bắt đầu bằng việc nghe nó. Người thích giọng hát có thể đi từ Ella Fitzgerald, Billie Holiday, Nat King Cole, Frank Sinatra đến Norah Jones hay Laufey. Người thích nhạc phim, piano hoặc những giai điệu êm có thể bắt đầu với Cool Jazz, Jazz Ballad hay Bossa Nova trước khi đi xa hơn.
Sau đó, hãy thử nghe Jazz trực tiếp. Một câu lạc bộ nhỏ thường là nơi rất tốt. Ngồi đủ gần để nhìn thấy tay người chơi bass di chuyển, thấy nghệ sỹ piano nhìn sang tay trống trước khi chuyển đoạn, người nghe sẽ hiểu Jazz nhanh hơn nhiều so với đọc vài chục trang lý thuyết.
Một liên hoan nhạc Jazz sẽ cho một trải nghiệm khác. Ở đó, bạn có thể đi ngang một sân khấu, nghe một ban nhạc chưa từng biết tên, đứng lại vì một đoạn solo rồi 10 phút sau mới nhận ra mình đã nghe hết cả bài. Đó có lẽ cũng là điều Hanoi Jazztival có thể đem lại khi Jazz đi ra những không gian công cộng của Hà Nội: Giảm bớt khoảng cách giữa một thể loại vốn bị cho là “khó” với những người chưa từng chủ động tìm đến nó.
Một buổi tối nào đó ở Hà Nội, trời bắt đầu se lạnh. Trong một quán nhỏ hay trên một góc phố, tiếng saxophone vang lên, piano đi vài nốt phía sau, tay trống gõ nhẹ như thể không muốn làm ai giật mình.
Có thể vẫn chẳng hiểu Jazz là gì nhưng bỗng thấy bản nhạc ấy có vẻ đang nói một chuyện rất quen. Đến lúc đó, có lẽ người nghe đã bước vào Jazz rồi, chỉ là không để ý mà thôi./.
Giọng ca jazz tiên phong tại Việt Nam tự sự cùng âm nhạc Trịnh Công Sơn
Quỳnh Phạm ra mắt album này vì bản thân là người đã theo nghề lâu năm và cũng để chứng minh rằng jazz không khó nghe, qua đó mang jazz đến gần với công chúng hơn.
Liên hoan Nhạc Jazz quốc tế Hà Nội năm 2026 - Hanoi Jazztival 2026 với chủ đề “Jazz Hà Nội - Giai điệu không biên giới” diễn ra vào trong ba ngày 17-18-19/9 tại nhiều không gian văn hoá tiêu biểu của Thủ đô Hà Nội như: Vườn âm nhạc Nhà hát Lớn Hà Nội, Nhà Bát Giác (Vườn hoa tượng đài vua Lý Thái Tổ), Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long, Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật (22 Hàng Buồm), Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Khách sạn Thăng Long Opera và các câu lạc bộ Jazz trên địa bàn thành phố.