Giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào Khmer không còn dừng ở việc hỗ trợ trước mắt mà đang được tỉnh Vĩnh Long triển khai theo hướng phát huy nội lực của người dân thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia, tín dụng chính sách, đào tạo nghề và hỗ trợ phát triển sản xuất.
Cách làm này đang tạo chuyển biến rõ nét trong đời sống đồng bào Khmer, góp phần nâng cao thu nhập, tăng khả năng tự tạo sinh kế và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số với các địa bàn khác.
Nhiều chính sách hỗ trợ
Tỉnh Vĩnh Long có tổng dân số hơn 3,38 triệu người; trong đó hơn 373.640 người là đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm 11,03% dân số, riêng đồng bào Khmer hơn 353.000 người, chiếm 10,42%.
Với địa bàn có đông đồng bào Khmer sinh sống, tỉnh xác định giảm nghèo bền vững không chỉ là nhiệm vụ an sinh xã hội mà còn là giải pháp quan trọng để thúc đẩy phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển.
Để giúp đồng bào có sinh kế lâu dài, tỉnh Vĩnh Long đã tập trung triển khai nhiều chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo việc làm, đào tạo nghề, cho vay tín dụng ưu đãi và chuyển giao khoa học kỹ thuật. Từ những chính sách này, nhiều hộ Khmer đã mạnh dạn đầu tư sản xuất, chuyển đổi mô hình kinh tế phù hợp với điều kiện thực tế của gia đình.
Gia đình anh Hứa Minh Xuyên, ấp Thanh Xuyên, xã Hàm Giang là một trong những hộ điển hình. Trước đây, nguồn thu của gia đình chủ yếu dựa vào vài công đất trồng mía và làm thuê theo mùa vụ nên cuộc sống khá chật vật. Năm 2019, thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội, anh Xuyên được vay 30 triệu đồng để mua hai con bò giống nuôi vỗ béo. Có vốn, anh từng bước đầu tư chuồng trại, trồng cỏ làm thức ăn, tích lũy kinh nghiệm chăm sóc đàn bò. Sau lứa nuôi đầu tiên có lãi, anh tiếp tục tái đầu tư, mở rộng quy mô.
Hiện gia đình anh đang vay 90 triệu đồng từ nguồn vốn tín dụng chính sách để phát triển chăn nuôi, mở rộng mô hình. Mỗi lứa bò xuất bán mang lại lợi nhuận hàng chục triệu đồng, giúp gia đình có nguồn thu ổn định, tích lũy từng bước cải thiện đời sống và có điều kiện lo cho con học hành. Không chỉ phát triển sản xuất nông nghiệp, nhiều hộ đồng bào Khmer còn khai thác lợi thế văn hóa truyền thống để tạo việc làm.
Điển hình gia đình anh Trầm Ngọc Tràng, ở xã Hàm Giang, từng thuộc diện hộ Khmer nghèo. Sau khi được Nhà nước hỗ trợ đất ở, nhà ở, gia đình tiếp tục tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi 50 triệu đồng để phát triển sinh kế. Từ nguồn vốn này, anh đầu tư mua sắm trang phục truyền thống Khmer, đạo cụ biểu diễn và phát triển dịch vụ cho thuê trang phục, trang điểm phục vụ lễ cưới, lễ hội và các hoạt động văn hóa của đồng bào Khmer.
Được đào tạo về nghệ thuật múa Khmer, anh vừa trực tiếp biểu diễn, vừa cung cấp dịch vụ cho các đội văn nghệ, chùa và các đơn vị tổ chức sự kiện trong và ngoài địa phương. Công việc tập trung vào các dịp Chôl Chnăm Thmây, Sene Đôlta, Ok Om Bok và các lễ hội Phật giáo Nam tông Khmer, các dịp hiếu, hỷ của cộng đồng dân cư vừa tạo nguồn thu nhập ổn định, vừa góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Hai mô hình với hai cách sinh kế khác nhau nhưng đều cho hiệu quả từ chính sách giảm nghèo. Thay vì hỗ trợ mang tính ngắn hạn, người dân được tiếp cận nguồn vốn, được định hướng mô hình sản xuất phù hợp và chủ động tạo thu nhập bằng chính sức lao động của mình.
Ông Tăng Quốc Tính, Phó Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Trà Cú cho biết, đơn vị luôn phối hợp với chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác và các tổ tiết kiệm, vay vốn để đưa nguồn vốn ưu đãi đến đúng đối tượng, góp phần giúp người dân có điều kiện phát triển sản xuất, tạo việc làm và ổn định cuộc sống.
Đến ngày 30/6/2026, tổng nguồn vốn của Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Trà Cú đạt hơn 1.042 tỷ đồng; tổng dư nợ các chương trình tín dụng đạt hơn 974 tỷ đồng, với hơn 22.600 hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác còn dư nợ. Nguồn vốn đã giúp hàng nghìn hộ nghèo, hộ cận nghèo và đồng bào Khmer đầu tư phát triển kinh tế, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và từng bước thoát nghèo.
Nâng cao năng lực
Những kết quả từ các mô hình sinh kế là minh chứng cho hiệu quả của việc triển khai đồng bộ các chính sách dân tộc, tôn giáo trên địa bàn tỉnh. Giai đoạn 2026-2030, Vĩnh Long tiếp tục xác định giảm nghèo bền vững và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ trọng tâm, gắn với mục tiêu xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế-xã hội.
Ủy ban Nhân dân tỉnh đã thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia nhằm thống nhất chỉ đạo, điều hành, tháo gỡ khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện. Giai đoạn này, tỉnh không chỉ tập trung hỗ trợ những khó khăn trước mắt mà hướng đến phát triển sinh kế, nâng cao năng lực sản xuất và tạo nền tảng để người dân tự vươn lên.
Đối với Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, tỉnh tập trung các giải pháp hỗ trợ sinh kế, phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, mở rộng tín dụng chính sách và cải thiện điều kiện sống cho người dân. Toàn tỉnh hiện còn 8.737 hộ nghèo, chiếm 0,88% và 19.246 hộ cận nghèo, chiếm 1,94%; trong đó phần lớn tập trung ở khu vực nông thôn. Năm 2026, tỉnh phấn đấu tiếp tục giảm 0,07% tỷ lệ hộ nghèo.
Song song với hỗ trợ phát triển sản xuất, Vĩnh Long triển khai xây dựng 300 căn nhà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ có hoàn cảnh khó khăn tại 39 xã từ nguồn vận động doanh nghiệp tài trợ. Đến nay đã hoàn thành 31 căn, 69 căn đang xây dựng, 200 căn còn lại đang hoàn tất thủ tục để triển khai. Các địa phương cũng đang xây dựng các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị nhằm tạo việc làm, nâng cao thu nhập và hạn chế tái nghèo.
Đối với Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tỉnh đã hoàn thành việc rà soát, xác định các xã, phường, ấp, khóm thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn đặc biệt khó khăn giai đoạn 2026-2030 làm cơ sở triển khai chính sách. Cùng với đó, tỉnh đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn Trung ương, điều chuyển nguồn vốn chưa có nhu cầu sử dụng sang các đơn vị có khả năng triển khai nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư và phát huy hiệu quả nguồn lực.
Theo Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Vĩnh Long, giai đoạn 2021-2025, tỉnh Vĩnh Long đã đầu tư xây dựng mới 279 công trình hạ tầng thiết yếu với tổng kinh phí hơn 434 tỷ đồng; hỗ trợ 1.270 hộ xây dựng nhà ở, 44 hộ đất ở, 545 hộ chuyển đổi nghề và hàng trăm hộ được hỗ trợ nước sinh hoạt. Bên cạnh đó, Ngân hàng Chính sách xã hội giải ngân hơn 60 tỷ đồng cho trên 1.300 lượt đối tượng thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để phát triển sản xuất, cải thiện đời sống.
Không chỉ quan tâm phát triển kinh tế, Vĩnh Long còn chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Hiện toàn tỉnh có 132 trường tổ chức dạy tiếng Khmer cho hơn 41.500 học sinh; nhiều chùa Phật giáo Nam tông Khmer mở lớp dạy tiếng Khmer trong dịp hè, góp phần bảo tồn tiếng nói, chữ viết và văn hóa truyền thống của đồng bào. Các lễ hội, văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer được tỉnh duy trì và tổ chức long trọng hàng năm.
Các chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số cũng được thực hiện đầy đủ, phát huy vai trò của các vị chức sắc, chức việc, người tiêu biểu trong tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, vận động nhân dân đoàn kết, phát triển kinh tế và xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.
Nhờ triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh giảm đáng kể. Đến cuối năm 2025, toàn tỉnh còn 1.119 hộ nghèo thuộc diện đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm 1,16% và 2.822 hộ cận nghèo, chiếm 2,75%.
Theo bà Thạch Thị Thu Hà, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Vĩnh Long, thời gian tới tỉnh tiếp tục triển khai hiệu quả các chương trình, chính sách dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số; trong đó ưu tiên hỗ trợ phát triển sản xuất, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát huy giá trị văn hóa truyền thống và khuyến khích người dân tham gia các mô hình kinh tế phù hợp với điều kiện từng địa phương.
Mục tiêu của tỉnh không chỉ là giảm số hộ nghèo mà quan trọng hơn là tạo điều kiện để người dân có việc làm, có thu nhập ổn định và chủ động vươn lên. Khi người dân được tiếp cận vốn, khoa học kỹ thuật, nghề nghiệp và thị trường tiêu thụ sản phẩm, hiệu quả giảm nghèo sẽ bền vững hơn./.
Mục tiêu giảm tỷ lệ nghèo từ 1-1,5%/năm và 100% xã nghèo thoát là khả thi
Các đại biểu Quốc hội cho rằng cần xây dựng chính sách riêng cho nhóm hộ nghèo không có khả năng lao động và đảm bảo nguồn lực thực hiện các chương trình hỗ trợ tại các vùng lõi nghèo.