Tiêu dùng xanh: Xu thế thay đổi mô hình sản xuất

Công nghệ cốt lõi chính là lực đẩy giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa vượt qua giai đoạn chuyển đổi đầy rủi ro, tối ưu hóa nguồn lực và vững bước trên hành trình sản xuất xanh.

Công ty may Maxport Hải Hậu, Nam Định, đơn vị có nhiều giải pháp cho sản xuất xanh, tăng trưởng bền vững. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)
Công ty may Maxport Hải Hậu, Nam Định, đơn vị có nhiều giải pháp cho sản xuất xanh, tăng trưởng bền vững. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)

Cuộc "Cách mạng Xanh" trên toàn cầu đã thúc đẩy việc tiêu thụ sản lượng lớn lương thực, thực phẩm, tuy nhiên cũng kéo theo đó là việc sử dụng ồ ạt phân bón hoá học và thuốc bảo vệ thực vật trong nhiều thập kỷ qua.

Mặt trái của sự tăng trưởng nóng là một hệ sinh thái bị tổn thương nghiêm trọng: Đất đai thoái hóa, đa dạng sinh học suy giảm; cùng những hệ lụy khôn lường đối với sức khoẻ con người.

Trước thực trạng báo động đó, thị trường đang chứng kiến cuộc chuyển đổi sâu sắc về hành vi tiêu dùng xanh gắn với sự thay đổi về mô hình sản xuất.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), nhu cầu về các sản phẩm an toàn, có nguồn gốc tự nhiên không còn là xu hướng nhất thời, mà đã trở thành tiêu chuẩn sống mới.

Những khảo sát thị trường gần đây, cho thấy, có tới 88% người tiêu dùng bày tỏ sự quan tâm đặc biệt đến thực phẩm hữu cơ, với tệp khách hàng chủ lực là những người có thu nhập cao tại các đô thị lớn. Họ sẵn sàng chi trả mức giá cao hơn, nhưng yêu cầu minh bạch tuyệt đối về chuỗi cung ứng, từ khâu sản xuất, chế biến, bao gói, bảo quản cho đến phân phối...

Sự dịch chuyển của thị trường đã đặt cộng đồng doanh nghiệp sản xuất trước yêu cầu phải chuyển đổi mô hình sản xuất xanh, bền vững; hoặc sẽ bị đào thải khỏi chuỗi giá trị toàn cầu.

Lúc này, nông nghiệp hữu cơ không chỉ là việc loại bỏ hóa chất, mà là quản trị hệ sinh thái dựa trên 4 nguyên tắc cốt lõi. Đó là: Sức khỏe, sinh thái, công bằng và sự cẩn trọng.

ttxvn-nong-nghiep-xanh.jpg
Nông dân xã Ba Gia, tỉnh Quảng Ngãi thu hoạch dưa được trồng theo tiêu chuẩn nông nghiệp sạch. (Ảnh: Hải Âu/TTXVN)

Đánh giá về sự dịch chuyển tư duy này, Tiến sỹ Nguyễn Thị Ngọc Dinh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam (Nhóm Nghiên cứu mạnh Công nghệ canh tác cây trồng bền vững) nhấn mạnh, chuyển đổi sang sản xuất bền vững là cuộc cách mạng về nhận thức, trước cả cuộc cách mạng về công nghệ.

Triết lý chuyển đổi xanh đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng một hệ thống khép kín, tôn trọng sức khỏe của đất, bảo vệ hệ sinh thái và đảm bảo tính minh bạch, công bằng cho mọi tác nhân tham gia chuỗi giá trị. Đây là nền tảng sống còn để hàng hóa Việt Nam đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế.

Dù nhận thức được tầm quan trọng của phát triển bền vững, nhưng thực tiễn triển khai tại Việt Nam vẫn đối mặt với muôn vàn thách thức. Hiện cả nước có khoảng 240.000 ha đất canh tác hữu cơ, thu hút sự tham gia của khoảng 160 doanh nghiệp sản xuất kinh doanh với kim ngạch xuất khẩu đạt 335 triệu USD mỗi năm.

Tuy nhiên, để đạt được những chứng nhận danh giá như USDA (Mỹ), EU Organic của (châu Âu), JAS (Nhật Bản) hay TCVN 11041 của Việt Nam, doanh nghiệp phải vượt qua quá trình chuyển đổi vô cùng khắc nghiệt.

Theo Tiến sỹ Nguyễn Thị Ngọc Dinh, thời gian chuyển đổi mô hình có thể kéo dài từ 12-18 tháng đối với tiêu chuẩn TCVN, hoặc lên tới 3 năm theo tiêu chuẩn USDA trước khi có vụ thu hoạch đầu tiên được công nhận.

Trong giai đoạn này, doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp phải tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về thiết lập vùng đệm cách ly, đánh giá rủi ro nguồn nước, đất đai và duy trì hệ thống nhật ký điện tử minh bạch.

Nhưng chính những rào cản về mặt tiêu chuẩn này đang tạo ra áp lực rất lớn cho các hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nhiều địa phương trên cả nước

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Quang Chung, Giám đốc Hợp tác xã Thương mại Dịch vụ Nông nghiệp Chung Thịnh Chính cho biết, khi bước vào sân chơi của các chứng nhận tiêu chuẩn khắt khe, khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp là làm sao duy trì được độ phì nhiêu của đất và kiểm soát rủi ro ô nhiễm chéo mà không dùng đến hóa chất.

Nếu chỉ làm theo kinh nghiệm truyền thống, chi phí nhân công sẽ đội lên rất cao, trong khi năng suất giai đoạn đầu lại sụt giảm, khiến nhiều hội viên dễ nản lòng và muốn quay lại phương thức cũ.

Bày tỏ sự trăn trở trong việc vận hành các mô hình sinh thái, ông Hy Thành Trung, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Công nghệ cao địa sinh thái VFARM cho hay, doanh nghiệp nhận thức rõ phát triển bền vững là con đường duy nhất để đưa sản phẩm tiến vào các kênh phân phối hiện đại.

Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu của các chứng chỉ uy tín, hợp tác xã rất cần những giải pháp công nghệ mang tính tuần hoàn, giúp tối ưu hoá chi phí đầu vào và giải quyết triệt để bài toán xử lý phế phụ phẩm một cách an toàn.

Trước những điểm nghẽn thực tiễn đó, việc ứng dụng Biochar (than sinh học) nổi lên như một giải pháp chiến lược, đáp ứng hoàn hảo tiêu chí của nền kinh tế tuần hoàn. Biochar không chỉ giúp giữ ẩm, cải tạo cấu trúc đất và khóa chặt hàm lượng carbon-giảm thiểu hiệu ứng nhà kính- mà còn là lời giải cho bài toán xử lý phế phẩm thân thiện với môi trường.

Đứng từ góc độ vĩ mô của phong trào chuyển đổi, ông Lê Quý Kha, Phó Chủ tịch Hiệp hội Chuyển đổi xanh Việt Nam (VGA) cho biết, trong Chiến lược Net Zero và giảm phát thải quốc gia, Biochar đóng một vai trò trung tâm.

Việc ứng dụng công nghệ này không chỉ dừng lại ở việc tạo ra năng suất an toàn, mà là minh chứng cho trách nhiệm xã hội (ESG) của doanh nghiệp. Một khi doanh nghiệp ứng dụng thành công chu trình tuần hoàn này, họ đang tự tạo ra 'tài sản niềm tin' vô giá trong mắt các nhà đầu tư và người tiêu dùng quốc tế.

Để hiện thực hóa được chu trình đó, sự tham gia của các doanh nghiệp cung cấp giải pháp công nghệ là không thể thiếu. Ông Lê Quý Vinh, đại diện Công ty Tomexco khẳng định, Tomexco cung cấp những giải pháp công nghệ cơ khí và thiết bị xử lý môi trường tiên tiến nhất, giúp các hợp tác xã và doanh nghiệp có thể tự chủ trong việc sản xuất Biochar đạt chuẩn từ chính nguồn phế phẩm của mình. Doanh nghiệp tin rằng, công nghệ cốt lõi chính là lực đẩy giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa vượt qua giai đoạn chuyển đổi đầy rủi ro, tối ưu hóa nguồn lực và vững bước trên hành trình sản xuất xanh.

Có thể thấy, khi công nghệ, truyền thông và khát vọng phát triển bền vững của các doanh nghiệp hòa làm một, tạo nên hệ sinh thái sản xuất xanh không chỉ minh bạch, mà còn đầy sức cạnh tranh trên trường quốc tế./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục