Theo Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, trong tháng 8/2026, toàn vùng Nam Trung Bộ-Tây Nguyên đã phải lùi, giãn thời vụ sản xuất đối với khoảng 3.821 ha lúa do ảnh hưởng của xâm nhập mặn. Trong số đó, Đà Nẵng 327 ha, Quảng Ngãi 218 ha, Đắk Lắk 121 ha, Khánh Hòa 909 ha và Lâm Đồng 2.246 ha. Hiện nay, tình trạng xâm nhập mặn trong khu vực đã chấm dứt.
Tuy nhiên, tại khu vực phía Đông tỉnh Đắk Lắk, tình trạng thiếu nước cục bộ vẫn xảy ra do ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng kéo dài, nhất là tại một số diện tích chân ruộng cao, cuối kênh. Cao điểm vào đầu tháng 8, tổng diện tích bị ảnh hưởng do thiếu nước khoảng 2.442 ha lúa.
Đến nay, diện tích còn phải bơm tưới chống hạn là 1.866 ha, tập trung tại cuối kênh Đồng Cam, gồm Trạm Thủy nông kênh Bắc 440 ha, Trạm Thủy nông kênh Nam 311 ha, Trạm Thủy nông Phú Xuân 174 ha và Trạm Thủy nông Tam Giang 941 ha. Địa phương đang tiếp tục triển khai các biện pháp bơm tưới chống hạn.
Về nguồn nước, tại khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, dung tích bình quân các hồ chứa thủy lợi hiện đạt 29% dung tích thiết kế, giảm 10% so với tháng trước; toàn vùng có 16 hồ cạn nước. Tại khu vực cao nguyên Nam Trung Bộ, dung tích bình quân các hồ đạt 63% dung tích thiết kế, tăng 19% so với tháng trước, song vẫn còn 2 hồ cạn nước.
Đối với các hồ chứa thủy điện tham gia điều tiết nước cho hạ du, trong tháng 8/2026, dung tích hồ trên một số lưu vực có sự biến động đáng kể. Trên lưu vực sông Sê San, tổng dung tích các hồ tăng khoảng 825 triệu m³; lưu vực sông Lũy-La Ngà tăng khoảng 121,1 triệu m³.
Trong khi đó, tổng dung tích các hồ trên lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn giảm khoảng 185,7 triệu m³, lưu vực sông Ba giảm 107,1 triệu m³ và lưu vực sông Srêpốk giảm 35 triệu m³.
Trên lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn, các hồ A Vương, Đắk Mi 4, Sông Bung 4 và Sông Tranh 2 trong tháng 8 có tổng dung tích giảm khoảng 185,7 triệu m³. Hiện dung tích hữu ích của các hồ chỉ đạt khoảng 8-10% dung tích thiết kế. So với cùng kỳ trung bình nhiều năm, hồ A Vương thấp hơn 11%, Sông Tranh 2 thấp hơn 3%, Đắk Mi 4 thấp hơn 7% và Sông Bung 4 thấp hơn 1%.
Trên lưu vực sông Ba, tổng dung tích các hồ An Khê, Ka Năk, sông Ba Hạ, Krông H’Năng và sông Hinh trong tháng 8 giảm khoảng 107,1 triệu m³. Hiện dung tích hữu ích các hồ đạt từ 10-71% dung tích thiết kế.
So với cùng kỳ trung bình nhiều năm, hồ Ka Năk thấp hơn 5%, An Khê cao hơn 3%, sông Ba Hạ thấp hơn 16%, Sông Hinh thấp hơn 5% và Krông H’Năng thấp hơn 33%.
Tại lưu vực sông Cái Phan Rang, dung tích hồ Đơn Dương trong tháng 8 giảm khoảng 5,9 triệu m³, hiện chỉ đạt 18% dung tích thiết kế, thấp hơn khoảng 34% so với cùng kỳ trung bình nhiều năm.
Trên lưu vực sông Lũy-La Ngà, tổng dung tích các hồ Đại Ninh và Hàm Thuận tăng khoảng 121,1 triệu m³. Hiện hồ Đại Ninh đạt 16% dung tích thiết kế, hồ Hàm Thuận đạt 44%; lần lượt thấp hơn 11% và 10% so với cùng kỳ trung bình nhiều năm.
Ở chiều ngược lại, nguồn nước trên lưu vực sông Sê San khá hơn. Trong tháng 8, tổng dung tích các hồ tăng khoảng 825 triệu m³. Hiện hồ PleiKrông đạt 52% dung tích thiết kế, Ialy đạt 63% và Sê San 4 đạt 75%; so với cùng kỳ trung bình nhiều năm, các hồ lần lượt cao hơn 9%, 15% và 7%.
Trên lưu vực sông Srêpốk, tổng dung tích các hồ trong tháng 8 giảm khoảng 35 triệu m³. Hiện hồ Buôn Tua Srah đạt 9% dung tích thiết kế, Buôn Kuốp đạt 26% và Srêpôk 3 đạt 29% dung tích thiết kế. So với cùng kỳ trung bình nhiều năm, các hồ lần lượt thấp hơn 35%, 17% và 5%.
Về sản xuất nông nghiệp, vụ Hè Thu 2026, vùng duyên hải Nam Trung Bộ bố trí khoảng 317.000 ha cây hàng năm, trong đó có 215.600 ha lúa và 101.400 ha rau màu, cây hàng năm khác; diện tích cây lâu năm khoảng 50.800 ha.
Tại vùng cao nguyên, vụ Mùa 2026 có tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm khoảng 431.500 ha, gồm 141.500 ha lúa và 290.000 ha cây hàng năm khác; diện tích cây lâu năm khoảng 878.000 ha.
Sang tháng 9/2026, khu vực bước vào thời kỳ mùa mưa, đồng thời là cao điểm thu hoạch lúa vụ Hè Thu, do đó nguy cơ hạn hán, thiếu nước được dự báo có chiều hướng giảm.
Dự báo đầu tháng 9, diện tích tiếp tục bị ảnh hưởng bởi hạn hán, thiếu nước khoảng 1.000 ha tại khu vực phía Đông tỉnh Đắk Lắk; các khu vực khác cơ bản bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Về diễn biến thủy văn, trong tháng 9, trên các sông từ Đà Nẵng đến Quảng Ngãi có khả năng xuất hiện 1-2 đợt lũ và dao động, với đỉnh lũ ở hạ lưu từ báo động 2 đến báo động 3, có sông trên báo động 3. Lưu lượng dòng chảy tháng 9/2026 trên các sông được dự báo thấp hơn trung bình nhiều năm cùng kỳ từ 22-74%.
Trên các sông từ Gia Lai đến Lâm Đồng có khả năng xuất hiện các đợt lũ, đỉnh lũ ở hạ lưu từ báo động 2 đến báo động 3, có sông trên báo động 3. Tổng lượng nước mặt trên các sông trong khu vực phổ biến xấp xỉ và thấp hơn trung bình nhiều năm cùng kỳ từ 16-79%.
Riêng lưu lượng dòng chảy trên sông Ba tại trạm Củng Sơn được dự báo thấp hơn 65-80% so với; trên sông Cái Nha Trang tại trạm Đồng Trăng thấp hơn 15-35%.
Như vậy, dù bước vào mùa mưa, nguồn nước tại một số khu vực Nam Trung Bộ-Tây Nguyên vẫn ở mức thấp, nhất là tại các hồ chứa và những vùng cuối kênh, chân ruộng cao. Việc tiếp tục theo dõi nguồn nước, chủ động bơm tưới và điều tiết nước hợp lý được đặt ra nhằm bảo đảm sản xuất nông nghiệp trong thời gian tới./.
Phòng chống sạt lở, hạn hán và xâm nhập mặn ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Theo Chương trình hành động của Chính phủ, một nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm là sắp xếp, di dời dân cư khu vực thường xuyên xảy ra ngập úng, có nguy cơ cao xảy ra sụt lún, sạt lở đến nơi an toàn.