Nếu trước đây than đá từng được ví như “vàng đen," tạo nên diện mạo và sức mạnh kinh tế của vùng mỏ, thì hôm nay Quảng Ninh đang đứng trước một nguồn lực phát triển khác: di sản. Đó là những giá trị được hình thành từ lịch sử, văn hóa, thiên nhiên và đời sống cộng đồng, được tích lũy qua nhiều thế hệ. Điểm đặc biệt của nguồn lực này là càng được bảo tồn tốt, khai thác hợp lý và làm giàu bằng sáng tạo, giá trị càng có khả năng gia tăng.
Trong quá trình chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng “nâu” sang “xanh," Quảng Ninh đã từng bước thay đổi cách nhìn về di sản. Di sản không còn chỉ được xem là đối tượng cần bảo vệ hay một điểm đến phục vụ khách du lịch, mà đang được đặt trong một không gian phát triển rộng hơn, nơi văn hóa, du lịch, dịch vụ, công nghiệp sáng tạo và kinh tế đêm có thể cùng tạo ra giá trị. Đây chính là nền tảng để kinh tế di sản trở thành một hướng đi mới trong chặng đường phát triển của tỉnh.
Di sản tạo nên lợi thế khác biệt
Theo Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh, tỉnh có một hệ thống tài nguyên di sản đặc biệt phong phú. Toàn tỉnh hiện có hơn 600 di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; hơn 360 di sản văn hóa phi vật thể được kiểm kê, bảo tồn và phát huy giá trị, cùng nhiều lễ hội truyền thống, nghệ thuật dân gian, tri thức dân gian và nghề thủ công gắn với cộng đồng các dân tộc.
Nổi bật nhất là vịnh Hạ Long và quần thể Yên Tử-Vĩnh Nghiêm-Côn Sơn, Kiếp Bạc. Việc sở hữu đồng thời những giá trị nổi bật về thiên nhiên và văn hóa đã tạo cho Quảng Ninh một lợi thế không dễ địa phương nào có được. Đây cũng là cơ sở để tỉnh xây dựng hình ảnh riêng, nâng cao sức cạnh tranh trong thu hút khách du lịch, đầu tư và mở rộng hợp tác quốc tế.
Điều đáng nói là Quảng Ninh không dừng lại ở việc sở hữu di sản, mà đang từng bước tìm cách biến lợi thế ấy thành nguồn lực phát triển. Nghị quyết Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh, nhiệm kỳ 2025-2030 xác định phát triển văn hóa gắn với công nghiệp văn hóa, kinh tế di sản, kinh tế đêm và kinh tế đô thị là một trong những khâu đột phá. Quan điểm này cho thấy sự thay đổi rõ rệt trong tư duy phát triển: bảo tồn không chỉ để gìn giữ những gì thuộc về quá khứ, mà còn để tạo ra những giá trị mới cho hiện tại và tương lai.
Đây là một chuyển biến quan trọng. Bởi nếu chỉ bảo tồn theo nghĩa đóng khung, di sản rất dễ trở thành những giá trị đứng ngoài đời sống kinh tế-xã hội. Ngược lại, khi di sản được đặt trong mối quan hệ với du lịch, dịch vụ, nghệ thuật, công nghệ và hoạt động sáng tạo, nó có thể tạo ra một chuỗi giá trị rộng lớn mà ở đó cộng đồng địa phương cũng được hưởng lợi.
Từ bảo tồn đến tạo giá trị
Những năm gần đây, Quảng Ninh dành nhiều nguồn lực cho công tác tu bổ, tôn tạo di tích, phục dựng lễ hội, số hóa dữ liệu di sản, nâng cao chất lượng hoạt động của các bảo tàng và điểm tham quan. Đáng chú ý là nguồn lực xã hội hóa ngày càng giữ vai trò lớn.
Trong giai đoạn 2021-2025, toàn tỉnh thực hiện 31 dự án tu bổ di tích với tổng vốn khoảng 850 tỷ đồng. Trong đó, nguồn xã hội hóa và các nguồn hợp pháp khác chiếm tới 95,72%, tương đương hơn 813 tỷ đồng; ngân sách nhà nước khoảng 36,3 tỷ đồng. Những con số này cho thấy bảo tồn di sản không còn là câu chuyện chỉ dựa vào ngân sách, mà đã thu hút sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức và cộng đồng.
Khi di sản được đầu tư đúng mức, giá trị kinh tế cũng bắt đầu được hình thành rõ nét hơn. Du lịch di sản trở thành một trong những thành phần quan trọng của kinh tế di sản Quảng Ninh và đóng góp đáng kể vào quá trình phục hồi, tăng trưởng kinh tế.
Năm 2025, Quảng Ninh đón gần 21,3 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế khoảng 4,5 triệu lượt. Tổng thu từ khách du lịch đạt 57.003 tỷ đồng. Chỉ trong 7 tháng năm 2026, tỉnh đã đón khoảng 15,1 triệu lượt khách, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước; khách quốc tế đạt 3,11 triệu lượt, tăng 18%. Doanh thu du lịch đạt hơn 44.300 tỷ đồng.
Phía sau những con số về lượng khách và doanh thu là cả một chuỗi hoạt động kinh tế. Một chuyến du lịch không chỉ tạo doanh thu cho điểm tham quan mà còn kéo theo nhu cầu về vận tải, lưu trú, ăn uống, mua sắm, logistics, giải trí và nhiều loại hình dịch vụ khác. Người dân địa phương có thêm việc làm, doanh nghiệp có thêm thị trường, các ngành kinh tế liên quan cũng có thêm dư địa phát triển.
Vịnh Hạ Long là ví dụ tiêu biểu. Mỗi năm, di sản thiên nhiên thế giới này đón khoảng 3-4 triệu lượt khách tham quan, những ngày cao điểm có thể lên tới 25.000-30.000 lượt. Cụm di tích Yên Tử, Bạch Đằng, nhà Trần cũng thu hút khoảng 2-3 triệu lượt khách tham quan, hành hương mỗi năm. Nhiều lễ hội truyền thống quy mô lớn có thời điểm đón 50.000-60.000 lượt khách trong một ngày.
Trong 7 tháng năm 2026, lượng khách tham quan vịnh Hạ Long đạt trên 2,13 triệu lượt; cụm di tích Yên Tử, Bạch Đằng, nhà Trần đạt trên 2 triệu lượt. Du lịch hiện đóng góp khoảng 10,46% GRDP của tỉnh năm 2025. Điều đó cho thấy di sản đã vượt ra khỏi phạm vi của một nguồn tài nguyên phục vụ tham quan để trở thành một phần đáng kể của nền kinh tế.
Hướng tới một thành phố gắn với di sản
Một trong những hướng đi đáng chú ý của Quảng Ninh là kết hợp kinh tế di sản với kinh tế đêm và công nghiệp văn hóa. Đây là cách để kéo dài thời gian lưu trú, mở rộng không gian tiêu dùng và tăng mức chi tiêu của du khách.
Nếu một điểm đến chỉ hoạt động trong vài giờ ban ngày, giá trị kinh tế tạo ra sẽ bị giới hạn. Nhưng khi có thêm các chương trình biểu diễn nghệ thuật, sản phẩm du lịch thực cảnh, hoạt động trải nghiệm, phố đi bộ, sự kiện văn hóa và dịch vụ về đêm, du khách có thêm lý do để ở lại lâu hơn. Khi đó, di sản không chỉ tạo ra doanh thu từ vé tham quan mà còn trở thành chất liệu cho nhiều sản phẩm kinh tế khác.
Đây cũng là nơi công nghiệp văn hóa có thể phát huy vai trò. Những câu chuyện lịch sử, truyền thuyết, kiến trúc, lễ hội, âm nhạc dân gian hay nghề thủ công truyền thống đều có thể được chuyển hóa thành sản phẩm sáng tạo nếu được nghiên cứu và tổ chức bài bản. Một câu chuyện về lịch sử vùng mỏ có thể trở thành sản phẩm nghệ thuật; một lễ hội truyền thống có thể tạo ra chuỗi dịch vụ; một nghề thủ công có thể được phát triển thành sản phẩm lưu niệm có thiết kế hiện đại.
Cách làm này vừa tạo ra giá trị kinh tế, vừa giúp di sản tiếp tục sống trong đời sống đương đại.
Trong Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tỉnh đặt mục tiêu xây dựng Quảng Ninh trở thành thành phố gắn với di sản mang tầm quốc tế, trung tâm kinh tế biển quốc gia và khu vực Đông Nam Á, đồng thời hướng tới một đô thị xanh, hiện đại, thông minh, có bản sắc và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Mục tiêu đến năm 2030 cũng cho thấy quy mô của kinh tế di sản sẽ không dừng ở lĩnh vực du lịch. Quảng Ninh phấn đấu đón 28 triệu lượt khách, doanh thu du lịch đạt 160.000-180.000 tỷ đồng, đóng góp 13-15% GRDP. Xa hơn, đến năm 2045, tỉnh hướng tới trở thành trung tâm văn hóa, nghệ thuật và du lịch di sản hàng đầu khu vực châu Á-Thái Bình Dương; phát triển kinh tế di sản, công nghiệp văn hóa và du lịch đêm theo chuỗi giá trị “di sản-sáng tạo-tiêu dùng."
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Quảng Ninh dự kiến hình thành 3 khu du lịch quốc gia gắn với du lịch đêm và công nghiệp văn hóa, 8 không gian kinh tế di sản và 6 khu vực phát triển kinh tế ban đêm trọng điểm. Việc số hóa 100% di sản văn hóa vật thể, phi vật thể cấp quốc gia và quốc gia đặc biệt cũng mở ra hướng tiếp cận mới, vừa phục vụ công tác bảo tồn, vừa tạo điều kiện để nghiên cứu, quảng bá và xây dựng sản phẩm du lịch.
Yên Tử được xác định là một trong những hạt nhân quan trọng của định hướng này. Mục tiêu trở thành đô thị di sản tầm cỡ quốc tế vào năm 2045 đặt ra yêu cầu phải bảo tồn nghiêm ngặt các giá trị cốt lõi, đồng thời tổ chức không gian phát triển phù hợp để di sản thực sự trở thành nền tảng của đô thị.
Quan điểm “do di sản, vì di sản, cùng di sản, bằng di sản” nếu được cụ thể hóa bằng những chính sách phù hợp sẽ tạo ra một mô hình phát triển đáng chú ý: con người không đứng ngoài di sản, mà trở thành chủ thể gìn giữ và hưởng lợi từ chính những giá trị văn hóa của mình./.
Quảng Ninh phát triển kinh tế di sản, du lịch đêm và công nghiệp văn hóa
Quảng Ninh xây dựng Đề án phát triển kinh tế di sản, sản phẩm du lịch đêm và công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045, tạo động lực tăng trưởng mới và nâng tầm điểm đến.