Theo Nghị quyết 09-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới, Thành phố cần phát huy vai trò là một đô thị đặc biệt; tiên phong mở đường về mô hình phát triển, thể chế và phương thức quản trị hiện đại; tạo sức lan tỏa mạnh mẽ, đóng góp ngày càng lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
Trong định hướng đó, Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) được kỳ vọng trở thành đầu mối kết nối dòng vốn toàn cầu với nhu cầu đầu tư của Thành phố và nền kinh tế.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt đang đề xuất hàng loạt cơ chế đột phá về huy động vốn, phát triển các công cụ tài chính hiện đại và thử nghiệm chính sách. Tuy nhiên, bên cạnh bài toán thu hút dòng vốn quốc tế, thách thức đặt ra là làm thế nào để nguồn vốn đó được dẫn vào nền kinh tế một cách hiệu quả.
Trao thêm quyền cho Thành phố Hồ Chí Minh trong huy động vốn, phát triển hạ tầng và thử nghiệm chính sách là một trong những điểm nhấn của Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt, nhằm tạo nền tảng cho Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) thu hút dòng vốn toàn cầu, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao.
Mở rộng quyền tự chủ để phát triển Trung tâm tài chính
Theo Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt đang được Thành phố Hồ Chí Minh lấy ý kiến góp ý, VIFC-HCMC là khu vực có ranh giới địa lý xác định do Chính phủ thành lập, được định hướng phát triển thành hệ sinh thái tài chính toàn diện; trong đó, bao gồm các lĩnh vực như tài chính hàng không, hàng hải, thương mại quốc tế, công nghệ tài chính (fintech), tài sản số, quản lý quỹ và tài sản, bảo hiểm, tái bảo hiểm, tài chính xanh, tài chính bền vững cùng các dịch vụ tài chính khác phù hợp với thông lệ quốc tế.
Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt trao cho Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhiều thẩm quyền trong phát triển trung tâm tài chính, từ quy hoạch không gian, bố trí quỹ đất, đầu tư hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số và giao thông kết nối đến điều chỉnh, mở rộng ranh giới VIFC-HCMC. Thành phố cũng được chủ động xây dựng chính sách đào tạo, thu hút và đãi ngộ nguồn nhân lực tài chính chất lượng cao, bao gồm chuyên gia quốc tế và chuyên gia đầu ngành trong nước.
Ngoài các ưu đãi theo quy định đối với trung tâm tài chính quốc tế, Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được quyết định cơ chế miễn, giảm, hoãn, hoàn hoặc khấu trừ một số loại thuế, phí và lệ phí nhằm thu hút nhà đầu tư và các tổ chức hoạt động trong những lĩnh vực ưu tiên tại VIFC-HCMC. Trong 5 năm đầu vận hành, Thành phố được giữ lại toàn bộ nguồn thu phát sinh từ trung tâm để tái đầu tư cho hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số, hạ tầng thị trường tài chính, đào tạo nhân lực và các dự án trọng điểm.
Dự thảo cũng mở rộng quyền hạn của Cơ quan điều hành VIFC-HCMC. Cơ quan này được thành lập hoặc góp vốn vào doanh nghiệp, đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại một số doanh nghiệp nhằm huy động nguồn lực cho các dự án trọng điểm của Thành phố. Đồng thời, cơ quan điều hành được tiếp nhận, quản lý và khai thác tài sản công, hạ tầng trong phạm vi trung tâm; ban hành hướng dẫn cấp phép đối với các tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức hạ tầng thị trường và các nền tảng giao dịch tài chính theo thông lệ quốc tế.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, dự thảo Luật Đô thị đặc biệt đã cụ thể hóa các định hướng được nêu trong Nghị quyết số 222/2025/QH15 của Quốc hội và các nghị định liên quan đến phát triển trung tâm tài chính quốc tế, đồng thời trao thêm quyền chủ động cho Thành phố Hồ Chí Minh trong việc đưa ra các quyết định liên quan đến trung tâm.
Một trong những nội dung đáng chú ý là việc bổ sung thẩm quyền phát hành trái phiếu cho Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là trái phiếu chính quyền địa phương phát hành trên thị trường quốc tế.
Theo ông Huân, các quy định hiện hành mới chủ yếu đề cập đến trái phiếu xanh, trong khi cơ chế đối với trái phiếu hạ tầng và các loại trái phiếu phục vụ nhu cầu huy động vốn của địa phương chưa được quy định đầy đủ. Việc bổ sung các quy định này sẽ giúp Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một kênh dẫn vốn hiệu quả hơn cho Thành phố cũng như nền kinh tế.
Ngoài ra, Dự thảo cũng bổ sung nhiều cơ chế nhằm tăng sức hấp dẫn của VIFC-HCMC, như thành lập Trung tâm xác thực xanh, công nhận trực tiếp một số chứng chỉ nghề nghiệp quốc tế và cho phép các quỹ đầu tư, công ty đầu tư huy động vốn không hạn chế từ nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư vào các dự án, doanh nghiệp và tài sản tại Việt Nam.
Cần cơ chế thử nghiệm và "luồng xanh" để thu hút vốn
Trong bối cảnh Thành phố Hồ Chí Minh đang triển khai nhiều dự án hạ tầng quy mô lớn, bài toán huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển được xem là một trong những lý do quan trọng để Thành phố đề xuất thêm các cơ chế phân cấp, phân quyền.
Theo ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (HUBA), nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển của Thành phố trong giai đoạn tới là rất lớn. Riêng 8 dự án đường sắt đô thị, nhu cầu vốn lên đến 30 tỷ USD. Do đó, Thành phố Hồ Chí Minh cần được trao thêm thẩm quyền trong huy động vốn, bao gồm khả năng tiếp cận các nhà đầu tư nước ngoài, huy động vốn bằng ngoại tệ thông qua Trung tâm Tài chính quốc tế.
Bên cạnh đó, đại diện HUBA cũng đề xuất Luật Đô thị đặc biệt cần mở rộng dư địa cho Thành phố Hồ Chí Minh trong phát hành trái phiếu và các hình thức huy động vốn khác, trên cơ sở gắn với năng lực tài chính và quy mô kinh tế của địa phương. Đây là một trong những nội dung cần được mạnh dạn phân cấp để Thành phố có thêm nguồn lực phục vụ đầu tư phát triển.
Cùng quan điểm, Tiến sỹ Đỗ Thiên Anh Tuấn, giảng viên Trường Chính sách Công và Quản lý, Đại học Fulbright Việt Nam cho rằng cần mạnh dạn phân cấp cho các địa phương có năng lực tài khóa tốt trong việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương. Theo ông, Thành phố Hồ Chí Minh là trường hợp điển hình khi vừa có nhu cầu đầu tư hạ tầng rất lớn, vừa sở hữu nền tảng ngân sách và năng lực tài khóa vững mạnh.
"Khả năng trả nợ và mức độ tín nhiệm của Thành phố Hồ Chí Minh không thua kém ngân sách trung ương, thậm chí còn là địa phương đóng góp ròng cho ngân sách quốc gia. Do đó, cần mở rộng không gian tài khóa thông qua trái phiếu chính quyền địa phương đối với những địa phương có năng lực tài khóa tốt," ông Tuấn nhận định.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, mở rộng thẩm quyền huy động vốn mới chỉ là một phần của bài toán. Để VIFC-HCMC trở thành kênh thu hút dòng vốn quốc tế, cần có các cơ chế đủ linh hoạt để thử nghiệm các mô hình tài chính mới, đồng thời tạo môi trường đầu tư có sức cạnh tranh với các trung tâm tài chính trong khu vực.
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Hữu Huân cho biết Nghị quyết số 222/2025/QH15 của Quốc hội cùng các Nghị định liên quan đã đề cập đến cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox). Tuy nhiên, với quy mô hiện nay của trung tâm tài chính khoảng 898 ha, dư địa thử nghiệm vẫn còn hạn chế trong khi mục tiêu cuối cùng là đưa các mô hình mới vào thực tiễn và từng bước thương mại hóa.
Vì vậy, Cơ quan điều hành VIFC-HCMC đề xuất cho phép triển khai các cơ chế thử nghiệm trong phạm vi trung tâm ở giai đoạn đầu, sau đó mở rộng ra toàn Thành phố Hồ Chí Minh nếu các mô hình chứng minh được hiệu quả và khả năng kiểm soát rủi ro. Để thực hiện được điều này, Luật Đô thị đặc biệt cần trao thẩm quyền cho Cơ quan điều hành trong việc xây dựng và triển khai các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát.
Theo ông Huân, sandbox không phải là cơ chế nới lỏng quản lý mà là quá trình thử nghiệm trong điều kiện được giám sát chặt chẽ. Các quy định liên quan sẽ được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, tham vấn chuyên gia và các tổ chức đã triển khai mô hình tương tự nhằm bảo đảm không gây rủi ro cho hệ thống tài chính, nhà đầu tư và các bên liên quan.
Đại diện VIFC-HCMC cũng cho biết mô hình Trung tâm Tài chính quốc tế của Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với Dubai, Abu Dhabi hay Astana hơn là Singapore, Hong Kong hoặc Thượng Hải. Theo đó, trung tâm được vận hành trong một khu vực có ranh giới xác định và áp dụng các cơ chế đặc thù so với phần còn lại của nền kinh tế. Vì vậy, khung pháp lý phải vừa tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo, vừa bảo đảm khả năng kiểm soát rủi ro.
"Việt Nam là nền kinh tế có độ mở cao nên dễ chịu tác động từ các biến động bên ngoài. Vì vậy, khi xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế, ưu tiên hàng đầu vẫn là kiểm soát rủi ro và bảo đảm an toàn cho hệ thống tài chính quốc gia," ông Huân nhấn mạnh.
Để hấp dẫn các dòng vốn quốc tế, đại diện VIFC-HCMC cho rằng, cần thiết lập những "luồng xanh" với các cơ chế thuận lợi hơn về quản lý ngoại hối, thủ tục đầu tư và các quy định pháp lý liên quan. Nếu đầu tư thông qua Trung tâm Tài chính quốc tế nhưng không có những lợi thế khác biệt so với cơ chế hiện hành thì rất khó thu hút dòng vốn quốc tế. Nhà đầu tư cần nhìn thấy những thuận lợi và ưu đãi rõ ràng hơn khi tham gia thông qua trung tâm.
Các chuyên gia cho rằng, việc xây dựng Luật Đô thị đặc biệt không chỉ nhằm mở rộng thẩm quyền cho Thành phố Hồ Chí Minh trong quản lý và huy động nguồn lực, mà còn là cơ hội để định hình khung thể chế cho Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh câu chuyện trao quyền và tạo cơ chế, vấn đề quan trọng không kém là làm thế nào để trung tâm này thực sự trở thành cầu nối giữa dòng vốn quốc tế với nhu cầu đầu tư, phát triển của nền kinh tế. Đây sẽ là thước đo quan trọng đối với hiệu quả của các chính sách đang được đề xuất.
Kênh dẫn vốn mới cho doanh nghiệp
Sau câu chuyện thể chế và phân quyền cho Thành phố Hồ Chí Minh trong phát triển Trung tâm Tài chính quốc tế, vấn đề được cộng đồng doanh nghiệp đặc biệt quan tâm là trung tâm này sẽ mang lại giá trị gì cho nền kinh tế. Theo nhiều chuyên gia, thành công của VIFC-HCMC không nằm ở quy mô vốn thu hút được mà ở khả năng trở thành đầu mối trung chuyển vốn cho doanh nghiệp Việt Nam.
Khi Việt Nam đặt mục tiêu xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế, điều cộng đồng doanh nghiệp quan tâm không chỉ là khả năng thu hút thêm các định chế tài chính hay dòng vốn nước ngoài, mà còn là những giá trị cụ thể mà trung tâm này có thể mang lại cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Từ góc độ cộng đồng doanh nghiệp, ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (HUBA), cho rằng sứ mệnh quan trọng nhất của IFC là trở thành một kênh dẫn vốn mới cho nền kinh tế, đặc biệt là nguồn vốn quốc tế dài hạn.
Theo ông Hòa, cần sớm xây dựng các cơ chế cho phép doanh nghiệp Việt Nam huy động vốn thông qua IFC bằng cả đồng Việt Nam và ngoại tệ, đồng thời có tiêu chí phù hợp đối với từng lĩnh vực và từng nhóm doanh nghiệp.
Ông cho rằng hiện nay nhu cầu vốn của nền kinh tế vẫn chủ yếu dựa vào hệ thống ngân hàng, trong khi thị trường vốn chưa phát huy đầy đủ vai trò. Nếu các doanh nghiệp lớn có thể tiếp cận nguồn vốn dài hạn từ thị trường vốn trong và ngoài nước, áp lực lên hệ thống tín dụng sẽ giảm bớt, qua đó tạo thêm dư địa cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn.
Các doanh nghiệp cho rằng, nếu chỉ dừng lại ở vai trò thu hút vốn nước ngoài vào Việt Nam, Trung tâm Tài chính quốc tế sẽ khó tạo ra sự khác biệt so với các cơ chế hiện có. Nhưng nếu trở thành cầu nối hai chiều, vừa đưa vốn quốc tế vào nền kinh tế, vừa giúp doanh nghiệp Việt tiếp cận thị trường tài chính toàn cầu, mô hình này có thể trở thành một trong những động lực quan trọng cho giai đoạn tăng trưởng mới của Việt Nam.
Phải giải được bài toán vốn của Việt Nam
Kỳ vọng của cộng đồng doanh nghiệp xuất phát từ một thực tế là nhu cầu vốn của nền kinh tế đang ngày càng lớn, trong khi các kênh huy động truyền thống dần bộc lộ những giới hạn nhất định.
Tiến sỹ Đỗ Thiên Anh Tuấn, giảng viên Trường Chính sách Công và Quản lý, Đại học Fulbright Việt Nam cho biết, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần huy động khoảng 38-40 triệu tỷ đồng vốn đầu tư trong giai đoạn 2026-2030, đồng thời nâng tỷ lệ tổng đầu tư toàn xã hội từ khoảng 32% GDP hiện nay lên 40% GDP.
Đây là bài toán rất lớn nếu chỉ dựa vào các nguồn vốn truyền thống. Ngân sách nhà nước chỉ có thể đáp ứng một phần nhu cầu đầu tư, tín dụng ngân hàng đã ở mức cao so với quy mô nền kinh tế; trong khi dòng vốn FDI chủ yếu tập trung vào lĩnh vực sản xuất.
Theo Tiến sỹ Đỗ Thiên Anh Tuấn, cấu trúc vốn của nền kinh tế cần được phát triển theo hướng đa tầng và đa dạng hóa nguồn cung vốn. Bên cạnh các kênh truyền thống, hệ sinh thái của Trung tâm Tài chính quốc tế có thể đóng góp thêm từ 3-5% GDP cho tổng vốn đầu tư xã hội thông qua các mô hình tài chính mới. Đặc biệt, các lĩnh vực như fintech, cho vay ngang hàng (P2P Lending), gọi vốn cộng đồng (crowdfunding) hay các nền tảng huy động vốn số có thể trở thành nguồn bổ sung đáng kể cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, theo ông Tuấn, hiệu quả của mô hình này cần được đánh giá bằng khả năng giải quyết những bài toán vốn của chính Việt Nam.
"Nếu không giải quyết được các nhu cầu huy động vốn của nền kinh tế Việt Nam thì rất khó để nói Trung tâm Tài chính quốc tế là một mô hình thành công," ông nhận định.
Các chuyên gia cho rằng, việc huy động được vốn mới chỉ là một nửa câu chuyện. Điều quan trọng hơn là làm thế nào để dòng vốn đó thực sự đi vào nền kinh tế.
Luật sư Trần Anh Đức, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng dự thảo Luật Đô thị đặc biệt đã mở ra nhiều công cụ huy động vốn theo thông lệ quốc tế như trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu dự án, trái phiếu công trình, các quỹ đầu tư và nhiều sản phẩm tài chính khác. Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở khâu kết nối giữa mô hình này và nền kinh tế nội địa.
Theo ông, khi dòng vốn được huy động tại trung tâm tài chính chuyển sang các doanh nghiệp hoặc dự án bên ngoài phạm vi VIFC-HCMC, dòng vốn này vẫn bị xem là vốn đầu tư nước ngoài và phải tuân thủ đầy đủ các quy định hiện hành về quản lý ngoại hối, đầu tư nước ngoài, giới hạn sở hữu và thủ tục chấp thuận đầu tư. Điều này làm giảm đáng kể vai trò của VIFC-HCMC với tư cách là cầu nối huy động vốn cho nền kinh tế.
"Nhà đầu tư có thể sẵn sàng rót vốn vào trung tâm tài chính, nhưng nếu quá trình đưa dòng vốn đó vào các dự án trong nước vẫn phải đi qua toàn bộ các thủ tục như một khoản đầu tư nước ngoài thông thường thì lợi thế của trung tâm tài chính sẽ bị thu hẹp đáng kể," luật sư Đức nhận định.
Kinh nghiệm từ nhiều trung tâm tài chính quốc tế cho thấy muốn phát huy vai trò dẫn vốn cho nền kinh tế thì cần có một hành lang pháp lý riêng giữa trung tâm tài chính và thị trường trong nước; trong đó, dòng vốn được lưu chuyển theo cơ chế đặc thù, với các thủ tục linh hoạt hơn so với quy định áp dụng cho dòng vốn đầu tư nước ngoài thông thường.
Vì vậy, vị luật sư này đề xuất xây dựng cơ chế riêng đối với các khoản vốn được huy động thông qua VIFC-HCMC khi đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên của Thành phố. Danh mục này có thể bao gồm các dự án hạ tầng giao thông, năng lượng sạch, chỉnh trang đô thị, logistics, đổi mới sáng tạo, công nghệ cao, giáo dục, y tế và nhà ở xã hội.
Bên cạnh đó, cần nghiên cứu cơ chế ngoại hối linh hoạt hơn trong phạm vi VIFC-HCMC, cho phép nhà đầu tư lựa chọn giao dịch bằng đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ chuyển đổi, đồng thời đơn giản hóa các thủ tục liên quan đến luân chuyển vốn giữa trung tâm tài chính và nền kinh tế trong nước.
Theo các chuyên gia, việc thu hút được dòng vốn quốc tế mới chỉ là bước đầu trong quá trình xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế. Quan trọng hơn là thiết kế được các cơ chế để dòng vốn đó được lưu chuyển hiệu quả vào nền kinh tế, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường tài chính toàn cầu. Đây cũng là một trong những bài toán thể chế quan trọng mà Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt cần giải quyết nếu muốn VIFC-HCMC trở thành động lực tăng trưởng mới cho Thành phố Hồ Chí Minh và cả nước./.
UOB nghiên cứu khả năng tham gia Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam
Ngân hàng UOB (Singapore) đang nghiên cứu khả năng tham gia Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam, qua đó góp phần thúc đẩy dòng vốn từ Singapore và ASEAN vào Việt Nam.