Bác Mai Văn Giá kể chuyện làng một đêm. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Trong không khí ngày xuân đang rộn ràng, chúng tôi tìm về làng Cự Nẫm thuộc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, cửa ngõ vào mặt trận phía Nam trong những năm tháng khói lửa của cuộc trường chinh thống nhất đất nước.
Dù chỉ dừng chân một đêm trên đường hành quân, nhưng với hàng ngàn người lính từng vượt Trường Sơn thuở ấy, “ngôi làng một đêm” ấy vẫn đầy ắp những kỷ niệm sống mãi với thời gian.
Cự Nẫm một thời máu lửa
Sau một thời gian chịu ảnh hưởng của không khí lạnh tăng cường, rét đậm, rét hại kéo dài, những ngày cuối năm, tranh thủ lúc trời vừa bén nắng, người dân làng Cự Nẫm lại nô nức lên rừng, ra chợ kiếm những cành đào, cành mai về vui xuân, đón Tết.
Bên ấm trà còn hơi nóng trong căn nhà cấp bốn rộng rãi, bác Mai Văn Giá (một cựu binh gần 70 tuổi) kể: Cự Nẫm một thời của bom đạn, nay đã được lấp đầy bởi những dãy nhà khang trang và những cánh đồng bạt ngàn hoa màu, cây trái. Chính sự đổi thay này đã giúp người dân dần quên đi những mất mát, thương đau.
Theo lời bác Giá, làng Cự Nẫm xưa nằm giữa ba bề núi chắn với các tuyến đường sắt, đường bộ, đường thủy từ Bắc vào Nam và từ Đông sang Tây, nên trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ, nơi đây được xem là "trung tâm" chiến lược của cách mạng.
Trong chín năm kháng chiến chống Pháp, Cự Nẫm được ví như một “pháo đài” án ngữ cửa ngõ ra vào chiến khu của tỉnh Quảng Bình và Liên khu 4. Điều đặc biệt, chỉ với những vũ khí thô sơ như nỏ, giáo mác và dao kiếm nhưng người làng Cự Nẫm vẫn quyết rào làng kháng chiến, bẻ gãy 26 trận càn lớn của bọn thực dân.
Cho đến thời chống Mỹ, với vị trí “yết hầu” trên tuyến hành lang vận tải từ hậu phương lớn ra tiền tuyến, Cự Nẫm lại trở thành một “đại binh trạm,” một “tổng kho” để tập kết bộ đội, vũ khí và hàng hóa cho chiến trường Miền Nam.
Từ năm 1966 đến 1973, ở Cự Nẫm, nhà nào cũng là binh trạm của bộ đội, thương binh đến từ hai miền Nam-Bắc. Bởi vậy mà rừng, rú nào ở đây cũng thành kho, thành bãi cất giữ súng đạn, lương thực, thuốc men...
Cũng vì địa bàn chiến lược quan trọng như vậy, nên Cự Nẫm đã phải đương đầu với hơn 2.500 lượt máy bay ném gần 56.000 quả bom lớn, chưa kể ba lần B-52 rải thảm 12.600 tấn bom xuống làng.
Dù phải hứng chịu nhiều đạn bom là vậy, nhưng hầu hết các đơn vị bộ đội hành quân từ miền Bắc vào chiến trường đều nghỉ lại Cự Nẫm một đêm, rồi hôm sau chia quân, hoặc theo đường 15 bên Đông Trường Sơn băng sông Bến Hải vào Quảng Trị, hoặc lên đường 20 Quyết Thắng vượt qua Tây Trường Sơn để vào Nam Bộ. Hàng hóa vào miền Nam cũng theo hai con đường ấy.
Vì thế, Cự Nấm được cánh lính gọi đây là “làng một đêm,” “làng binh trạm” hay “làng mặt trận” trước khi ra chiến trường. Hòa vào nguồn cảm hứng ấy, nhà thơ Văn Lợi đã viết: Cửa ngõ vào mặt trận / Là một làng hậu phương / Nhà dọc, nhà ngang, võng ngược, võng xuôi / Quân đến, quân đi hệt như con cái / Bà con ở đây ít quen chào hỏi / Chỉ quen thầm lặng yêu thương.
Thời gian cứ trôi mãi. Người làng Cự Nẫm giờ cũng không còn nhớ đã đào bao nhiêu hầm hào cho bộ đội, đã nuôi, chăm sóc bao nhiêu thương binh, đã vác bao nhiêu thùng đạn. Chỉ biết rằng, làng đã thức hơn ba nghìn đêm để đón, đưa hàng trăm nghìn lượt bộ đội, thanh niên xung phong và vận chuyển, cất giữ hàng triệu tấn hàng hóa cho chiến trường.
Không những vậy, người làng Cự Nẫm thuở ấy còn tháo dỡ nhà, chặt cây làm hàng chục căn hầm, đào hàng trăm mét hào giao thông cho bộ đội trú ẩn. Trai gái trong làng ai cũng đi bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, để lại việc làng cho các “bọ”, “mạ” (bố, mẹ) chăm lo.
“Nghìn lẻ một” chuyện cổ tích
Trong câu chuyện với vị khách trẻ, bác Giá liên tiếp nhắc chuyện bọ Lời đã ngoài 60 tuổi vẫn một mình vật lộn với lửa, cứu cả kho hàng. Trong thế lâm nguy, bọ Lời còn cảm tử đi đầu phá bom từ trường cho xe thông tuyến, đưa hàng, đưa quân ra tiếp sức cho bộ đội nơi chiến trường.
Hay như chuyện mạ Luyến suốt ngày kéo nước giếng sâu giặt quần áo cho hết đơn vị này đến đơn vị khác. Mạ Xê lo nấu nướng rồi gánh cơm ra trận địa cho cả đại đội ăn. Mạ Ngạn ngày ngày vào rừng chặt lá cây gùi về ngụy trang cho cả tiểu đoàn pháo thủ...
Đáng quý nhất là chuyện cậu thanh niên tên Bình, mới 16 tuổi cũng xung phong đi tải thương. Đến lúc bom giội xuống, em đã lấy thân mình che chở cho thương binh rồi hy sinh anh dũng...
Về thăm làng một đêm hôm nay, chúng tôi còn được nghe hơn cả “nghìn lẻ một” chuyện cổ tích. Người Cự Nẫm vốn không hay kể về nỗi thương đau, mất mát mà chỉ gợi lại những chuyện vui về các chú bộ đội “Khu Ba” và những mối tình vượt qua lửa đạn.
Trong câu chuyện với chàng phóng viên trẻ, bác Giá bảo: Cự Nẫm có nhiều kỷ niệm khó diễn tả thành lời. Đáng nhớ nhất là chuyện tình của một anh vệ quốc quân thuộc Chi đội Lê Trực (người ở Thừa Thiên-Huế đã dũng cảm cùng bà con giữ làng) với cô con gái một gia đình cơ sở.
Sau một thời gian tìm hiểu, đám cưới kháng chiến đã giữ chàng vệ quốc quân người Thừa Thiên-Huế này ở lại, xông pha cùng đất lửa Quảng Bình cho đến ngày hòa bình. Và, đó là một trong vô vàn những câu chuyện đẹp của tình yêu thời lửa đạn.
Hay như chuyện tình của chiến sĩ Đỗ Đình Chững thuộc Trung đoàn pháo binh 78, Sư đoàn 325, đóng quân ở Cự Nẫm. Thời điểm này, ngoài mặt trận đã ác liệt, về hậu cứ cũng bom đạn ngút trời, vậy mà chàng pháo thủ xứ Thanh vẫn “ôm" trọn trái tim cô cán bộ Đoàn xã Cự Nẫm.
Chia sẻ về câu chuyện của chính cuộc đời mình, bác Giá như có dịp "hồi sinh" về một thời trai trẻ. Bác kể, năm 1958, bác về Cự Nẫm làm Chủ nhiệm Hợp tác xã rồi Bí thư Đảng ủy. Trong những năm Mỹ dội bom ác liệt nhất, bác lại cùng bà con vừa phục vụ chiến đấu vừa tăng gia sản xuất.
Tranh thủ nhấp ngụm trà còn hơi ấm, rồi bác Giá bảo chiến tranh đã lấy đi của bác quá nhiều nước mắt, với những năm tháng "lao tâm, khổ tứ." Có buồn, có vui. Đáng nhớ nhất là thời kỳ cấp trên giao chỉ tiêu sản xuất 180 tấn lương thực, nhưng Cự Nẫm đã hoàn thành đến 900 tấn và trở thành đơn vị đầu tiên của Quảng Bình đạt năng suất 5 tấn lúa/ha.
"Với thành tích như vậy, chúng tôi đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động (năm 1967)," bác Giá kể lẫn niềm tự hào.
Chiến tranh, bom dạn tàn khốc là vậy. Những câu chuyện thân tình, nặng nghĩa của Cự Nẫm một thời còn đó. Những bọ, mạ ngày ấy giờ đã dần khuất núi, nhưng tấm lòng người dân làng một đêm, khí chất của làng binh trạm vẫn "sống" mãi qua những câu chuyện của hàng triệu người dân xứ Quảng./.