Đền Mây-Nơi lưu giữ những giá trị văn hóa lịch sử bên dòng sông Hồng

Việc giữ gìn đền Mây không chỉ là bảo tồn một công trình kiến trúc cổ mà còn là cách người dân tỉnh Hưng Yên lưu giữ ký ức quê hương và những giá trị tinh thần để trao truyền cho thế hệ mai sau.

Tam quan đền Mây. (Ảnh: Vietnam+)
Tam quan đền Mây. (Ảnh: Vietnam+)

Nằm bên dòng sông Hồng nặng phù sa, dưới bóng cây đa cổ thụ, đền Mây là một trong những di tích lịch sử, văn hóa tiêu biểu của vùng đất Phố Hiến, Hưng Yên.

Ngôi đền là nơi lưu giữ những dấu ấn kiến trúc truyền thống và gắn liền với cuộc đời, sự nghiệp của tướng quân Phạm Bạch Hổ-vị danh tướng có nhiều đóng góp trong buổi đầu xây dựng nền độc lập, tự chủ của dân tộc. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đền Mây vẫn trầm mặc bên bến Lảnh, đò Mây, trở thành điểm tựa tâm linh và niềm tự hào của người dân địa phương.

Dấu ấn vị tướng tài ba trong lịch sử dân tộc

Đền Mây, còn gọi là Đền Đằng Châu, tọa lạc tại khu vực Đằng Châu, phường Sơn Nam, tỉnh Hưng Yên. Đây là một trong những di tích thuộc Khu di tích quốc gia đặc biệt Phố Hiến, gắn bó mật thiết với lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất ven sông Hồng.

Xưa kia, Đằng Châu là vùng đất có vị trí quan trọng, gần bến Lảnh, còn gọi là bến đò Mây. Thuyền bè qua lại tấp nập, hoạt động giao thương góp phần tạo nên một vùng quê trù phú. Cảnh sắc nơi đây từng đi vào câu ca dân gian: “Trăm cảnh, nghìn cảnh không bằng bến Lảnh, đò Mây.” Câu ca ngợi ca vẻ đẹp nên thơ của vùng sông nước và thể hiện tình cảm gắn bó của người dân với quê hương. Tên gọi đền Mây vì thế cũng trở nên gần gũi, thân thuộc qua nhiều thế hệ.

Đền Mây thờ tướng quân Phạm Bạch Hổ, còn gọi là Phạm Phòng Át, một danh tướng tiêu biểu của thế kỷ 10. Theo tư liệu lịch sử và truyền thuyết dân gian, ông sinh ngày 10 tháng Giêng năm Canh Ngọ (910), trong một gia đình có điều kiện làm ăn tại Đằng Châu. Từ nhỏ, Phạm Bạch Hổ đã nổi tiếng thông minh, ham học, tính tình cương trực. Khi trưởng thành, ông có thân hình vạm vỡ, giỏi văn võ, đặc biệt am hiểu sông nước. Nhờ tài năng và uy tín, ông trở thành hào trưởng đất Đằng Châu, sau đó là tướng tài dưới trướng Dương Đình Nghệ.

den-may-1863.jpg
Cung cấm đặt tượng, ban thờ chính Tướng quân Phạm Bạch Hổ cùng mẫu thân và phu nhân của ông. (Ảnh: Vietnam+)

Trong bối cảnh đất nước vừa giành lại quyền tự chủ nhưng vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức, Phạm Bạch Hổ đã có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc. Năm 937, khi Kiều Công Tiễn sát hại Dương Đình Nghệ, chiếm quyền và cầu viện quân Nam Hán, ông đã cùng Ngô Quyền tham gia tiêu diệt thế lực phản nghịch, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống quân xâm lược.

Năm 938, Phạm Bạch Hổ góp sức cùng Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Chiến thắng có ý nghĩa quan trọng, chấm dứt thời kỳ dài đất nước chịu sự đô hộ của các thế lực phương Bắc, mở ra bước phát triển mới cho nền độc lập, tự chủ của dân tộc.

Sau khi triều Ngô suy yếu năm 965, đất nước rơi vào tình trạng cát cứ, các hào trưởng nổi lên chiếm giữ từng vùng. Phạm Bạch Hổ trở về Đằng Châu, xây dựng lực lượng và trở thành một trong 12 sứ quân. Đến năm 968, khi Đinh Bộ Lĩnh tiến hành dẹp loạn, thống nhất đất nước, ông đã đem quân quy thuận. Với những đóng góp của mình, ông được vua Đinh phong chức Thân vệ Đại tướng quân.

Theo các tư liệu được lưu truyền tại địa phương, Phạm Bạch Hổ tiếp tục gắn với sự nghiệp bảo vệ đất nước dưới thời Tiền Lê. Ông được nhắc đến như một vị tướng tận tụy, sẵn sàng đóng góp sức lực khi đất nước đứng trước nguy cơ bị xâm lược. Sau khi Phạm Bạch Hổ qua đời, nhân dân lập đền thờ và suy tôn ông làm Thành hoàng. Qua các triều đại, ông được ban nhiều sắc phong, thể hiện sự ghi nhận đối với công lao của vị danh tướng.

Kiến trúc cổ kính lưu giữ giá trị nghệ thuật

Theo truyền ngôn, đền Mây được khởi dựng từ rất sớm trên khu vực dinh lũy của tướng quân Phạm Bạch Hổ. Trước đây, công trình có quy mô lớn, gồm tam quan, nhà ở, nhà Đông Biên, Tây Biên và khu thờ chính. Trải qua những biến động của thời gian, nhiều hạng mục không còn nguyên vẹn. Tuy nhiên, khu thờ chính vẫn được gìn giữ, tu bổ qua nhiều thế hệ.

Sau nhiều lần trùng tu, tôn tạo, kiến trúc đền Mây ngày nay mang đậm dấu ấn nghệ thuật thời Hậu Lê đan xen phong cách thời Nguyễn. Tổng thể công trình được bố trí theo kiểu chữ Tam, gồm ba tòa Tiền tế, Trung từ và Hậu cung.

Tòa Tiền tế gồm ba gian, mái lợp ngói mũi, kết cấu theo kiểu tường hồi bít đốc. Hệ thống vì kèo được làm theo lối chồng rường giá chiêng, với các hàng cột gỗ kê trên chân tảng đá. Những con rường, đầu dư và bức cốn được chạm khắc hình hoa lá, hoa xoắn, đầu rồng cùng các chủ đề tứ linh, tứ quý.

Bên trong Tiền tế là hệ thống cửa võng, hoành phi, câu đối và đồ thờ truyền thống. Nổi bật ở gian giữa là bức đại tự khảm trai ghi bốn chữ Hán “Thái Bình Vương phủ.” Các bức hoành phi như “Phúc dẫn Đằng lưu,” “Anh phi Châu quận” và “Bán giang lĩnh tích” vừa làm đẹp không gian, vừa gợi nhắc về vùng đất Đằng Châu và công lao của vị tướng được nhân dân tôn thờ.

den-may.jpg
Bia ghi lại tiểu sử tướng Phạm Bạch Hổ và lịch sử đền Mây. (Ảnh: Vietnam+)

Nối tiếp Tiền tế là tòa Trung từ gồm năm gian, có nền cao hơn, với hệ thống cột gỗ lim vững chắc đặt trên chân tảng đá lớn. Các cấu kiện gỗ được trang trí bằng những họa tiết hoa lá, đao lửa và nhiều đường chạm tinh tế. So với các gian bên, những bộ vì ở gian giữa được chạm khắc cầu kỳ hơn, tạo điểm nhấn nghệ thuật cho toàn bộ công trình.

Sâu bên trong là Hậu cung, gồm ba gian, nơi đặt ban thờ chính của tướng quân Phạm Bạch Hổ cùng mẫu thân và phu nhân của ông. Sự nối tiếp giữa ba tòa nhà tạo nên một chỉnh thể hài hòa, thể hiện quan niệm truyền thống về sự tôn nghiêm của nơi thờ tự.

Đền Mây hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa và mỹ thuật, trong đó có hệ thống tượng thờ cổ, hai cỗ kiệu Bát cống, lư hương đồng, các bức đại tự và sắc phong qua nhiều triều đại. Đặc biệt, bức châm thư do Tiến sỹ Chu Mạnh Trinh đề năm 1888 là hiện vật đáng chú ý, gắn với cảnh đẹp Đằng Châu và những câu chuyện dân gian về sự linh thiêng của ngôi đền. Sự hiện diện của những di vật này góp phần làm phong phú giá trị của di tích, đồng thời phản ánh quá trình gìn giữ, bồi đắp văn hóa của nhiều thế hệ cư dân địa phương.

Lễ hội truyền thống và sức sống của di sản

Không chỉ là di tích lịch sử, đền Mây còn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tín ngưỡng của người dân địa phương. Hàng năm, lễ hội đền Mây thường được tổ chức vào 3 dịp: từ ngày 8-16 tháng Giêng hàng năm là lễ hội tưởng nhớ ngày sinh của tướng quân; từ 12-18 tháng mười một hàng năm là lễ hội tưởng nhớ ngày mất của ngài; 16-24 tháng 6 âm lịch là lễ hội tưởng nhớ ngày mất của thân phụ ngài.

Trong những ngày lễ, người dân từ các khu vực lân cận trở về đền dâng hương, thực hiện nghi lễ tưởng niệm và cầu mong bình an, mùa màng thuận lợi, gia đình yên ấm. Những nén hương thơm, lễ vật giản dị cùng lời khấn nguyện thành kính tạo nên không khí trang nghiêm mà gần gũi. Đây cũng là dịp để các thế hệ trong cộng đồng gặp gỡ, nhắc lại những câu chuyện về vị Thành hoàng làng và truyền lại cho con cháu truyền thống tốt đẹp của quê hương.

4-997.jpg
Du khách thập phương đến thăm quan đền Mây. (Ảnh: Cổng Thông tin Du lịch Hưng Yên)

Bên cạnh phần lễ, phần hội từng có nhiều hoạt động dân gian đặc sắc như đấu vật, hát trống quân, đánh cờ, múa lân và múa rối nước. Đây là những hình thức sinh hoạt văn hóa quen thuộc của cư dân đồng bằng Bắc Bộ, phản ánh tinh thần thượng võ, sự khéo léo và đời sống tinh thần phong phú của cộng đồng.

Theo thời gian, hình thức tổ chức lễ hội có những điều chỉnh để phù hợp với đời sống hiện đại. Dù quy mô và cách thức tổ chức thay đổi, ý nghĩa cốt lõi vẫn được gìn giữ để tưởng nhớ tiền nhân, củng cố tình đoàn kết và nâng cao ý thức bảo tồn di sản. Với người dân Đằng Châu, lễ hội không đơn thuần là sự kiện thường niên mà còn là dịp khẳng định sự tiếp nối giữa quá khứ và hiện tại.

Với những giá trị nổi bật về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật, đền Mây được công nhận là Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật năm 1992. Năm 2014, ngôi đền trở thành một trong những điểm di tích thuộc Khu di tích quốc gia đặc biệt Phố Hiến được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng. Đây là sự ghi nhận đối với giá trị của công trình, đồng thời đặt ra yêu cầu bảo tồn và phát huy di sản một cách bền vững.

Giữa nhịp sống đổi thay của Hưng Yên, đền Mây vẫn giữ vẻ trầm mặc bên dòng sông Hồng. Bóng cây đa cổ thụ, mái ngói rêu phong, những đường chạm khắc tinh xảo và các hiện vật cổ cùng tạo nên không gian giàu chiều sâu văn hóa. Đến với ngôi đền, du khách không chỉ tìm về chốn tâm linh thanh tĩnh mà còn có dịp tìm hiểu lịch sử dân tộc, tưởng nhớ công lao của tướng quân Phạm Bạch Hổ và cảm nhận nếp sống nghĩa tình của cư dân vùng Phố Hiến.

Trải qua nhiều thế hệ, đền Mây vẫn hiện diện như một chứng nhân của lịch sử, nơi những giá trị truyền thống được gìn giữ trong đời sống hôm nay. Bảo tồn ngôi đền cũng chính là gìn giữ một phần ký ức của Hưng Yên, để những câu chuyện về tiền nhân, vẻ đẹp kiến trúc và bản sắc văn hóa địa phương tiếp tục được trao truyền cho mai sau./.

(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục

Khu di tích tháp Pô Sah Inư. (Ảnh: Hồng Hiếu/TTXVN)

Lâm Đồng giới thiệu sắc màu di sản văn hóa Chăm

Thông qua triển lãm “Sắc màu Di sản văn hóa Chăm” Lâm Đồng sẽ nâng cao nhận thức của người dân về giá trị di sản, khuyến khích gìn giữ, trao truyền các phong tục, lễ hội, nghề thủ công truyền thống.