Mặc dù phải đối mặt với nhiều biến động phức tạp của tình hình thế giới, song bức tranh kinh tế của các địa phương trong năm qua vẫn tiếp tục xu hướng phục hồi và mở rộng. Đặc biệt, các vùng động lực (như Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ) vẫn giữ vai trò dẫn dắt. Bên cạnh đó, nhiều địa phương quy mô nhỏ cũng tận dụng tốt lợi thế hạ tầng và đầu tư công để vươn lên nhóm tăng trưởng khá.
Thông tin trên được bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê đã đưa ra buổi họp báo công bố tình hình kinh tế-xã hội quý 4 và cả năm 2025, ngày 5/1.
Sự trỗi dậy của các vùng động lực
Tuy nhiên, nhận định về tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), người đứng đầu ngành Thống kê cũng thẳng thắn nhìn nhận rằng mức độ phục hồi chưa đồng đều. Trên thực tế, sự phân hóa rõ nét giữa các địa phương ven biển, các trung tâm công nghiệp lớn với các tỉnh phụ thuộc vào nông nghiệp hoặc khai khoángm điều này đang đặt ra những vấn đề lớn về tính bền vững và chất lượng tăng trưởng trong giai đoạn tiếp theo.
Nhìn vào nền kinh tế năm 2025, báo cáo chỉ ra rõ sự vượt trội của Vùng Đồng bằng sông Hồng. Với vai trò là vùng động lực quan trọng bậc nhất, tốc độ tăng GRDP của vùng ước đạt 9,74%, đóng góp tới hơn 36% vào mức tăng trưởng chung của cả nước. Kết quả này không chỉ đến từ sự ổn định của Thủ đô Hà Nội mà còn nhờ sức bật mạnh mẽ từ các vệ tinh công nghiệp (như Hải Phòng, Bắc Ninh, Quảng Ninh).
Trong nhóm các địa phương dẫn đầu, Quảng Ninh và Hải Phòng tiếp tục là những cái tên sáng giá nhất với mức đạt tương ứng 11,89% và 11,81%. Động lực cho những con số ấn tượng này nằm ở khả năng thu hút và giải ngân hiệu quả dòng vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI), đi cùng với sự bứt phá của các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn. Cụ thể, Quảng Ninh có sự vận hành của Khu kinh tế ven biển Quảng Yên và tổ hợp công nghiệp ôtô Thành Công Việt Hưng. Cùng với đó, Hải Phòng tiếp tục hưởng kết quả từ hệ sinh thái công nghiệp của LG và tổ hợp VinFast, kết hợp với vai trò trung tâm logistics hàng đầu miền Bắc.
Một diễn biến đáng chú ý trong năm 2025 là câu chuyện sáp nhập địa giới hành chính và tác động tích cực của nó tới kinh tế vùng. Điển hình là Bắc Ninh sau khi sáp nhập với Bắc Giang. Sự cộng hưởng giữa một “thủ phủ” điện tử công nghệ cao với một địa phương có thế mạnh về công nghiệp hỗ trợ và quỹ đất rộng lớn đã tạo nên một trung tâm chế biến-chế tạo có sức cạnh tranh quốc tế. Với mức tăng trưởng ước đạt 10,3%, Bắc Ninh đang khẳng định vị thế vững chắc nhờ sự mở rộng quy mô của các "đại bàng" như Samsung, Amkor hay các dự án mới như Fulian.
Ở phía Nam, Vùng Đông Nam Bộ vẫn giữ vững vị thế là vùng kinh tế có quy mô lớn nhất, đóng góp hơn 31% vào tăng trưởng chung. Thành phố Hồ Chí Minh, sau những nỗ lực tái cơ cấu, đã đạt mức tăng trưởng 7,53%. Điểm sáng của đầu tàu kinh tế phía Nam nằm ở khu vực dịch vụ với sự đóng góp lên tới gần 66% vào mức tăng trưởng chung, khẳng định sự chuyển dịch đúng hướng sang các ngành có giá trị gia tăng cao (như tài chính, logistics và kinh tế số). Kế đến, Đồng Nai cũng ghi nhận mức tăng 9,63% nhờ cú hích từ dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành và sự phục hồi của các ngành công nghiệp chủ lực.
Tại khu vực miền Trung, Đà Nẵng đang lấy lại phong độ với mức tăng trưởng 9,18%. Thành phố bên sông Hàn đang gặt hái thành quả từ chiến lược định hướng trở thành Trung tâm tài chính quốc tế và sự phục hồi mạnh mẽ của du lịch. Ngành xây dựng tại đây tăng trưởng đột biến hơn 25% nhờ hàng loạt dự án bất động sản đô thị quy mô lớn tái khởi động. Bên cạnh đó, Thừa Thiên Huế cũng ghi tên vào nhóm tăng trưởng khá với 8,5%, nhờ sự kết hợp hài hòa giữa phát triển công nghiệp và kinh tế di sản.
Khoảng cách vùng miền
Bên cạnh đó, bức tranh kinh tế năm 2025 vẫn tồn tại những mảng màu trầm, phản ánh sự chênh lệch đáng kể trong phát triển vùng miền. Cụ thể, nhóm các địa phương tăng trưởng thấp (dưới 7%) là Vĩnh Long, Thái Nguyên, Tuyên Quang, do đang đối mặt với nhiều thách thức.
Nguyên nhân cốt lõi khiến các địa phương này tụt lại phía sau nằm ở cơ cấu kinh tế còn đơn điệu, phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp truyền thống, khai khoáng hoặc gia công giá trị thấp. Hơn thế nữa, những rủi ro từ thiên tai, biến động giá cả hàng hóa thế giới hay sự chững lại của một vài doanh nghiệp FDI lớn đã tác động lập tức đến chỉ số GRDP.
Mặt khác, kết quả thống kê năm 2025 cũng chỉ ra một thực tế, nhiều tỉnh thành vẫn dựa quá nhiều vào thâm dụng lao động, tài nguyên và đất đai mà chưa có sự chuyển dịch mạnh mẽ sang đổi mới sáng tạo hay kinh tế xanh. Tỷ trọng dịch vụ hiện đại, logistics và thương mại điện tử tại nhiều địa phương còn thấp, làm hạn chế khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Bà Nguyễn Thị Hương cũng nhấn mạnh, sự chênh lệch này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc điều tiết và phân bổ nguồn lực. Theo bà, nếu không có những chính sách can thiệp kịp thời, khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng động lực và vùng khó khăn sẽ ngày càng nới rộng, ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển bao trùm của quốc gia.
Để giải quyết bài toán này, Cục Thống kê đưa ra kiến nghị cần đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, tiếp tục được xem là "bệ đỡ" quan trọng. Tuy nhiên, thay vì đầu tư dàn trải, nguồn vốn cần tập trung vào các dự án hạ tầng giao thông chiến lược có tính liên kết vùng, giúp các địa phương khó khăn kết nối thuận lợi hơn với các cực tăng trưởng.
Bên cạnh đó, các địa phương cần chủ động xây dựng kịch bản tăng trưởng linh hoạt, không chỉ dựa vào việc thu hút đầu tư bằng mọi giá mà phải chú trọng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với nâng cao năng suất lao động. Việc sáp nhập đơn vị hành chính (như ví dụ thành công ở miền Bắc) cũng là một hướng đi cần nghiên cứu để mở rộng không gian phát triển, tối ưu hóa nguồn lực.
Năm 2025 đã khép lại với nhiều kết quả tích cực, tạo đà tâm lý tốt cho giai đoạn tiếp theo. Tuy nhiên, những thách thức từ sự bất định của kinh tế thế giới và những điểm nghẽn nội tại vẫn còn đó. Theo Cục Thống kê, để duy trì đà tăng trưởng 8,02% và lan tỏa nó đến mọi vùng miền, chiến lược điều hành tại các địa phương cần linh hoạt và quyết liệt hơn. Trong đó, mỗi địa phương không chỉ là một mảnh ghép riêng lẻ mà phải là một mắt xích chặt chẽ trong chuỗi liên kết kinh tế quốc gia./.
Sản xuất công nghiệp năm 2025 tăng 9,2%, đạt mức cao nhất từ năm 2019
Nhìn lại giai đoạn 2019-2025, tốc độ tăng 9,2% của năm nay đã vượt xa mức tăng trưởng của các năm trước đó, cho thấy những nỗ lực vượt khó và khả năng thích ứng của cộng đồng doanh nghiệp.