Dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 12,4% từ đầu năm, cao hơn tốc độ tăng tín dụng chung của nền kinh tế. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận vốn của khu vực này vẫn còn nhiều điểm nghẽn, đòi hỏi đổi mới cách đánh giá tín dụng và khai thác hiệu quả hơn dữ liệu, dòng tiền.
Mở rộng đánh giá tín dụng bằng dữ liệu
Phát biểu tại Hội nghị “Tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa” do Ngân hàng Nhà nước tổ chức ngày 18/9, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Ngọc Cảnh cho biết khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động và có kết quả kinh doanh, giữ vai trò quan trọng trong tạo việc làm, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế-xã hội.
Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước triển khai các giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất, giảm lãi suất cho vay, điều hành tăng trưởng tín dụng phù hợp, hướng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên và tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận tín dụng.
Đáng chú ý, sau hơn một tháng triển khai chương trình tín dụng hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa và các lĩnh vực động lực tăng trưởng, số ngân hàng thương mại công bố chương trình, sản phẩm ưu đãi tăng từ 4 lên 19 ngân hàng. Tổng quy mô các chương trình, sản phẩm ưu đãi đạt trên 407.000 tỷ đồng, với lãi suất thấp hơn 1-2%/năm so với mức cho vay bình quân cùng kỳ hạn.
Nguồn vốn được hướng tới nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao, xuất khẩu, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp bán dẫn, chế biến chế tạo và các dự án xanh.
Theo Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 28/8/2026, dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế đạt gần 20,5 triệu tỷ đồng, tăng 10,24% so với cuối năm 2025. Riêng doanh nghiệp nhỏ và vừa, trên 100 tổ chức tín dụng có phát sinh dư nợ, với tổng dư nợ trên 4,1 triệu tỷ đồng, tăng 12,4%, chiếm khoảng 20% tổng dư nợ nền kinh tế.
Tại Hội nghị, một trong những đề xuất đáng chú ý là tăng cường cho vay dựa trên dữ liệu và dòng tiền, thay vì phụ thuộc nhiều vào tài sản bảo đảm truyền thống.
Việc kết nối dữ liệu về thuế, hóa đơn điện tử, đất đai, đăng ký doanh nghiệp, bảo hiểm xã hội với hệ thống thông tin tín dụng có thể giúp rút ngắn thời gian thẩm định, đồng thời tạo thêm cơ sở đánh giá doanh nghiệp.
Ngân hàng Nhà nước xác định chuyển đổi số, kết nối dữ liệu và ứng dụng công nghệ, AI có trách nhiệm là hướng đi nhằm giảm chi phí, nâng cao chất lượng thẩm định và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ. Tuy nhiên, việc này phải gắn với yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn và bảo vệ dữ liệu khách hàng.
Theo lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước, dù vậy doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp khó khăn do biến động kinh tế thế giới, chi phí đầu vào tăng, thị trường tiêu thụ thu hẹp, ảnh hưởng đến doanh thu, dòng tiền và khả năng trả nợ. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp có quy mô nhỏ, vốn chủ sở hữu hạn chế, năng lực quản trị và xây dựng phương án kinh doanh chưa đồng đều; một bộ phận chưa minh bạch về tài chính hoặc thiếu dữ liệu lịch sử.
Ở chiều ngược lại, ngân hàng phải bảo đảm các yêu cầu về quản trị rủi ro, trong đó thông tin về khách hàng, phương án sử dụng vốn và khả năng trả nợ phải đầy đủ, đáng tin cậy. Vì vậy, mở rộng tín dụng không đồng nghĩa với hạ chuẩn cấp tín dụng.
Không chỉ tăng vốn, cần nâng khả năng hấp thụ
Phát biểu tại Hội nghị, ông Đỗ Văn Vẻ - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên cho rằng trong giai đoạn phát triển mới, quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp cần vượt lên trên quan hệ đơn thuần giữa “người cho vay và người đi vay” để trở thành những đối tác cùng phát triển.
Theo ông, nâng cao khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ là câu chuyện của ngành Ngân hàng hay doanh nghiệp mà còn là vấn đề quan trọng để khơi thông nguồn lực khu vực kinh tế tư nhân, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tạo thêm động lực tăng trưởng.
“Doanh nghiệp khỏe thì ngân hàng có khách hàng tốt. Ngân hàng khỏe thì doanh nghiệp có nguồn lực phát triển. Dòng vốn được đưa đúng địa chỉ, đúng thời điểm thì nền kinh tế có thêm động lực tăng trưởng,” ông Đỗ Văn Vẻ nói.
Từ thực tiễn tại Hưng Yên, ông cho rằng giữa “doanh nghiệp cần vốn” và “doanh nghiệp đủ điều kiện tiếp cận vốn” vẫn tồn tại khoảng cách, liên quan đến tài sản bảo đảm, năng lực quản trị, minh bạch tài chính, hồ sơ và khả năng chứng minh dòng tiền.
Theo ông, bài toán không chỉ là tăng lượng vốn đưa ra nền kinh tế mà còn phải mở rộng khả năng tiếp cận và nâng cao năng lực hấp thụ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Doanh nghiệp mong các tổ chức tín dụng ứng dụng mạnh hơn công nghệ và dữ liệu để đánh giá toàn diện thông qua dòng tiền, hợp đồng, đơn hàng, lịch sử thanh toán, dữ liệu thuế, hóa đơn điện tử và hiệu quả phương án kinh doanh.
“Đừng chỉ nhìn doanh nghiệp hôm nay đang có bao nhiêu tài sản, hãy nhìn cả năng lực doanh nghiệp có thể tạo ra bao nhiêu giá trị trong tương lai,” ông Đỗ Văn Vẻ cho biết.
Để khơi thông dòng vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, đại diện các Hiệp hội cho rằng cần hoàn thiện cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước, ngân hàng và doanh nghiệp; nâng cao hiệu quả Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và các công cụ hỗ trợ phù hợp.
Nếu ngân hàng phải gánh toàn bộ rủi ro, việc mở rộng tín dụng với doanh nghiệp hạn chế về tài sản bảo đảm sẽ khó khăn. Ngược lại, cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý, cùng với đổi mới thẩm định và nâng cao tính minh bạch của doanh nghiệp, có thể mở rộng tín dụng mà không hạ chuẩn an toàn.
Bản thân doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng cần chủ động nâng cao quản trị, minh bạch tài chính, quản lý dòng tiền, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước và xây dựng phương án sản xuất kinh doanh khả thi. Không phải cứ doanh nghiệp cần vốn thì ngân hàng phải cho vay.
Phát biểu kết luận Hội nghị, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn khẳng định ngành Ngân hàng luôn sẵn sàng nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, chính sách hỗ trợ tín dụng cần đặt trong tổng thể các giải pháp khác như phát triển các thị trường tài chính, nâng cao năng lực doanh nghiệp, kết nối thị trường và tháo gỡ khó khăn về thuế, đất đai, thủ tục đầu tư, xây dựng.
Thống đốc đề nghị các Bộ, ngành hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc lĩnh vực quản lý; các hiệp hội ngành nghề phát huy vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và tổ chức tín dụng.
Về phía doanh nghiệp, cần chủ động nâng cao năng lực quản trị, minh bạch thông tin tài chính, xây dựng phương án kinh doanh khả thi, quản lý dòng tiền và cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin cho tổ chức tín dụng.
Đây cũng là những điều kiện quan trọng để doanh nghiệp không chỉ tiếp cận được vốn ngân hàng mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững./.
Tín dụng tăng nhanh, ngân hàng đối mặt áp lực nguồn vốn
Tín dụng tiếp tục tăng mạnh trong khi huy động vốn chưa theo kịp đang tạo sức ép lên thanh khoản và chi phí vốn của các ngân hàng, khiến dư địa giảm lãi suất cho vay ngày càng thu hẹp.