Để thỏa nỗi nhớ quê, tối tối họ thường tụ tập ở nhà ai đó, ngâm nga vàibài vọng cổ theo lối đàn ca tài tử cho khuây khỏa, vợi bớt…
{Tiến sỹ Lee và cuộc gìn giữ giá trị Việt trên Internet}
Từ thuở “tha phương cầu thực”…
“Theo lời cha, quê hương tôi là một làng chài nhỏ thuộc tỉnh Bạc Liêu,nhưng từ thời ông bà nội tôi, cùng nhiều người dân trong ấp, đã phải dờingược dòng Cửu Long-MeKong lên tận Biển Hồ ngày nay kiếm sống,” ôngHoàng bồi hồi kể.
Cách trung tâm thành phố Siem Riep khoảng 30 phút chạy ôtô, nơi ôngHoàng sống bây giờ là ấp Cồn Quạ (tiếng Campuchia: Koh K’et), xã RengTưl, tỉnh Pursat có hơn 200 hộ gia đình người gốc Việt, chiếm 10% tổngsố người Việt rải rác bờ Biển Hồ.
Bà con người Việt ở đây cùng người dân địa phương sống trên những cănnhà bè tạm bợ-dùng tre ken chặt làm “móng” cho nhà nổi trên mặt nước,cột và tường nhà bằng gỗ, mái trước lợp rơm, rạ, cỏ tranh, nay dùng tônđể tránh mưa gió làm tốc mái, làm nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản.
Sống theo lối quần cư, cùng nhau gồng mình chống lại mưa bão, hoặc đẩynhà bè ra xa bờ khi mùa nước cạn, vì thế cuộc sống của họ cũng vô cùngkhó khăn. Hình ảnh những nhà bè, ghe thuyền nơi đây dễ liên tưởng tớivùng nước nổi miền Tây Việt Nam, nhưng người dân lại sống vất vả và khắckhổ hơn do cuộc sống lênh đênh tạm bợ phụ thuộc vào con nước.
“Hàng năm, từ khoảng tháng Sáu đến tháng Mười là mùa cá sinh sản, ngườidân không được đánh bắt, nên hầu như nhà nào cũng nuôi thêm bè cá trê,cá tra, thậm chí nuôi lợn, hoặc làm mắm cá mang lên các chợ bán lấy tiềnmua gạo, rau quả và thực phẩm khác. Thanh niên sức dài vai rộng thì lênbờ đi làm thuê làm mướn, từ thợ xây, bốc vác, đến chạy xe ôm tại cácthành phố Siem Reap, Pursat hay các thị trấn huyện lỵ Krakor, Kan Dieng,nhiều cháu khác thì mong muốn đi làm công nhân cao su,” ông Hoàng chobiết.
Sau hàng trăm năm lưu lạc đến định cư trên vùng nước này, đến nay hầuhết các làng, ấp người Việt trên Biển Hồ đều đã dựng lên được các cửahàng bán lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình với quy mô nhỏ lẻ. Mớichỉ 50% các hộ gia đình có tivi lấy nguồn điện sử dụng từ ắcquy, pin.
Còn những trạm bán xăng dầu, nhà xưởng sửa chữa máy thuyền, nhà máy lọcnước, trường học, chùa chiền, nhà thờ, nhà sinh hoạt cộng đồng hay cáccửa hàng lớn là của người dân bản địa.
Khó khăn nhất với bà con là hầu hết các ấp không có cơ sở y tế nên mỗilần ốm đều phải đi thuyền lên bờ vào bệnh viện mới được khám và điềutrị.
Đến chuyện học tiếng Việt
Ở ấp Cồn Quạ, cộng đồng người Việt vẫn dùng tiếng mẹ đẻ là chính, mộtphần nhờ sự cố gắng của các thế hệ cha ông trong việc gìn giữ tiếngViệt, phần khác là nhờ lớp học tiếng Việt dành cho con em kiều bào vớisỹ số trung bình 70 em liên tục được duy trì. Đa số các em vẫn nói sõi,đọc thông, viết thạo tiếng Việt.
Lớp học trụ vững được là nhờ Quỹ hỗ trợ cộng đồng và các nhà hảo tâmtrong nước tài trợ. Các em được học từ lớp 1 đến lớp 5 với sách giáokhoa Việt Nam, học phí 200-300 riel/tháng.
Nhưng ông Lê Hoàng cũng buồn rầu cho biết, thời gian qua cô giáo Loan,người đã dẫn dắt nhiều thế hệ học sinh, bị bệnh nặng, không thể tiếp tụcdạy nữa. Sau bốn tháng bị gián đoạn may mắn là nay các em đã được trởlại lớp học với thầy giáo Trần Văn Tâm, sách, vở tập viết và bút đềuđược các nhà hảo tâm trong nước tài trợ (gần đây nhất là của Ủy ban vềngười Việt Nam ở nước ngoài Thành phố Hồ Chí Minh tặng).
Tuy nhiên, ông Hoàng cũng bày tỏ lo ngại, do không giao lưu với con emngười địa phương nên tiếng Campuchia của con em người Việt còn rất hạnchế. Đây cũng là khó khăn và mối bận tâm chung của các bậc phụ huynh.
Được biết, hiện tại trên Biển Hồ, tương tự như lớp tiếng Việt tại ấp CồnQuạ còn có 11 lớp học tiếng Việt ở các ấp, xã khác với gần 1.000 em, 18giáo viên (15 giáo viên dạy tiếng Việt, ba giáo viên dạy tiếng Khmer).
Trong số này, Hội Việt kiều trực tiếp quản lý 03 trường tại xã ChongKneas, Siem Reap (300 em); xã Kampong Luông, Pursat (102 em) và cả ở ấpCồn Quạ.
Ngoài ra, có 2 trường học Việt Nam của người Thiên chúa giáo (tại xãKampong Luong có 180 em, xã Chong Kneas 30 em), còn lại là các lớp họcViệt Nam tư nhân do kiều bào tự mở, rải rác ở các ấp, xã mỗi lớp trongbình từ 30-50 em.
Ông Lê Hoàng đánh giá, chất lượng giáo dục tại các Trường, lớp học nàychưa được tốt. Vì trình độ giáo viên thấp và một số bậc phu huynh thườnggiữ con em ở nhà phụ giúp việc gia đình, nhất là vào mùa đánh bắt cá,việc đến lớp học của các em thường bị gián đoạn.
Thiệt thòi nhất là sau khi học hết lớp bốn ở Trường Việt Nam, các emkhông thể theo học lớp năm tại các Trường Campuchia do không nói và viếtđược tiếng Khmer hoàn chỉnh và nhất là không có giấy khai sinhCampuchia.
Để duy trì việc dạy và học, hiện các Hội người Việt đã điều chỉnh, thuêthêm thầy cô dạy tiếng Khmer. “Nhưng khó khăn nhất vẫn là thiếu kinh phíbồi dưỡng cho giáo viên, khoản này mới chỉ trông chờ vào sự đóng góp,tài trợ của các đoàn nhân đạo từ thiện cung cấp,” ông Hoàng bày tỏ.
Với mong muốn tháo gỡ “nút thắt” này, Tổng Hội người Việt ở Campuchiađang xây dựng kế hoạch xin vay vốn Ngân hàng để mở Tổng đại lý bán hàngViệt Nam, giao cho các Hội địa phương làm đại lý, lợi nhuận sẽ được dùngcho việc dạy và học./.