Quản lý lao động đi làm việc ở nước ngoài bằng dữ liệu, giảm gánh nặng thủ tục

Việc kết nối dữ liệu doanh nghiệp, dân cư và thị trường lao động sẽ giúp giảm hồ sơ, chi phí tuân thủ, đồng thời hỗ trợ giám sát doanh nghiệp và bảo vệ tốt hơn quyền lợi người lao động.
Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng. (Ảnh: Chu Thanh Vân/TTXVN)

Việc sửa đổi quy định về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng theo hướng giảm những thủ tục không còn cần thiết, đơn giản hóa các thủ tục có thể cải cách, đồng thời tăng cường hậu kiểm, quản lý bằng dữ liệu và phân quyền cho chính quyền cơ sở sẽ giúp giảm chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, người lao động nhưng vẫn bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước.

Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng đã trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN về các quy định mới trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

- Thưa Thứ trưởng, thay đổi lớn nhất trong cách quản lý hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài lần này là gì? Làm thế nào để giảm tiền kiểm, đồng thời ngăn được tình trạng doanh nghiệp lợi dụng chính sách?

Thứ trưởng Vũ Chiến Thắng: Tôi cho rằng, thay đổi lớn nhất là chuyển căn bản từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm," nhưng không cắt giảm cơ học mà giảm tiền kiểm theo tính chất rủi ro và nhu cầu quản lý của từng thủ tục.

Chúng tôi đã rà soát toàn bộ thủ tục hành chính của lĩnh vực và phân loại theo mức độ rủi ro. Những thủ tục mang tính kiểm soát hành chính thuần túy, rủi ro thấp thì bãi bỏ; những thủ tục còn cần thiết nhưng có thể đơn giản hóa thì cắt giảm hồ sơ, rút ngắn thời gian; những hoạt động doanh nghiệp cần chủ động như chuẩn bị nguồn lao động được chuyển từ cơ chế "đăng ký, chờ chấp thuận" sang "thông báo."

Ngược lại, những khâu gắn trực tiếp với quyền lợi và sự an toàn của người lao động, như đăng ký hợp đồng cung ứng lao động, vẫn được duy trì kiểm soát chặt chẽ, nhưng đơn giản hóa hồ sơ và rút ngắn thời gian giải quyết.

Với cách tiếp cận đó, Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành trong thời gian tới dự kiến bãi bỏ 3 thủ tục hành chính, cắt giảm, đơn giản hóa 6 thủ tục; giảm khoảng 34% chi phí tuân thủ.

Giảm tiền kiểm cũng phải đi cùng tăng cường quản lý, giám sát và dự báo bằng dữ liệu điện tử. Cơ quan quản lý chuyển từ "kiểm soát hồ sơ đầu vào" sang "giám sát hoạt động bằng dữ liệu."

Doanh nghiệp không phải nộp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp vì cơ quan giải quyết thủ tục tự tra cứu trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Lao động Việt Nam chuẩn bị đi làm việc ở nước ngoài. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Mỗi người lao động được quản lý bằng mã số trên cơ sở dữ liệu chuyên ngành trong suốt quá trình từ đăng ký, xuất cảnh, làm việc ở nước ngoài đến khi về nước.

Hệ thống từng bước kết nối, liên thông với Cơ sở dữ liệu thị trường lao động, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và dữ liệu bảo hiểm xã hội.

Trên nền tảng dữ liệu đó, cơ quan quản lý có thể giám sát từ xa, phát hiện sớm dấu hiệu bất thường trong hoạt động của doanh nghiệp để kiểm tra đúng và trúng; đồng thời phục vụ công tác phân tích, dự báo thị trường lao động ngoài nước, cảnh báo sớm rủi ro cho người lao động và điều hành chính sách theo từng thời kỳ. Dịch vụ công trực tuyến toàn trình tiếp tục được duy trì, nâng cao.

Hàng rào hậu kiểm và chế tài cũng được thiết kế đủ mạnh, trong đó có cơ chế phối hợp giữa Bộ Nội vụ và Bộ Công an trong xử lý vi phạm.

- Lần đầu tiên nhiều nhiệm vụ được phân quyền cho cấp tỉnh, cấp xã. Theo Thứ trưởng, điều này sẽ giải quyết những điểm nghẽn nào trong quản lý trước đây?

Thứ trưởng Vũ Chiến Thắng: Một trong những nhiệm vụ quan trọng được giao cho Ủy ban Nhân dân cấp xã lần này là quản lý công tác chuẩn bị nguồn lao động trên địa bàn.

Thực tế cho thấy, chuẩn bị nguồn, tuyển chọn tại địa bàn là mắt xích, công đoạn mà các tổ chức, cá nhân không có chức năng, không được cấp Giấy phép thường lợi dụng để quảng bá, hứa hẹn và thu tiền trái pháp luật của người lao động. Trong khi đó, chính quyền cơ sở là cấp gần dân nhất lại chưa có công cụ pháp lý để can thiệp.

Theo quy định của Luật sửa đổi, doanh nghiệp tổ chức chuẩn bị nguồn trên địa bàn xã có nghĩa vụ thông báo cho Ủy ban Nhân dân cấp xã chậm nhất 3 ngày trước khi thực hiện.

Trên cơ sở đó, Ủy ban Nhân dân cấp xã rà soát tính pháp lý của doanh nghiệp, đối chiếu với danh sách doanh nghiệp được cấp Giấy phép đã được niêm yết công khai trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nội vụ, đồng thời theo dõi, giám sát hoạt động này và kịp thời xử lý hoặc thông tin đến cơ quan có thẩm quyền.

Việc phân quyền được thiết kế thận trọng, phù hợp năng lực từng cấp và bảo đảm khung pháp lý ổn định, dài hạn. Luật sửa đổi luật hóa có chọn lọc các nội dung phân quyền, phân cấp đã được triển khai có hiệu quả theo Nghị định số 128/2025/NĐ-CP.

Các nhiệm vụ giao cho cấp xã chủ yếu là tiếp nhận thông tin, theo dõi, giám sát, không phát sinh quy trình thẩm định, không yêu cầu chuyên môn sâu về pháp luật lao động hay ngoại ngữ nhưng phù hợp và hiệu quả với vai trò, chức năng của chính quyền cấp xã là quản lý trực tiếp công dân tại địa bàn cơ sở.

Những nhiệm vụ đòi hỏi am hiểu pháp luật lao động của nước tiếp nhận vẫn được cân nhắc kỹ về điều kiện bảo đảm thực hiện trước khi phân quyền.

Đây cũng là sự cụ thể hóa phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm.”

- Việc kết nối, khai thác dữ liệu doanh nghiệp, dân cư sẽ tạo ra thay đổi thực chất nào đối với doanh nghiệp và người lao động, thưa Thứ trưởng?

Thứ trưởng Vũ Chiến Thắng: Ý nghĩa đầu tiên của việc kết nối, khai thác dữ liệu doanh nghiệp, dân cư là cắt giảm thành phần hồ sơ, thủ tục hành chính theo nguyên tắc xuyên suốt: thông tin Nhà nước đã có thì người dân, doanh nghiệp không phải nộp lại. Nguyên tắc này được áp dụng trong các thủ tục hành chính của cả doanh nghiệp và người lao động.

Ví dụ, Luật sửa đổi bãi bỏ thành phần hồ sơ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp khi làm thủ tục cấp Giấy phép; thay vào đó, cơ quan giải quyết thủ tục thuộc Bộ Nội vụ có trách nhiệm tự tra cứu trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Tương tự, khi dữ liệu chuyên ngành được kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, các giấy tờ chứng minh nhân thân, cư trú trong hồ sơ của người lao động sẽ từng bước được thay thế bằng việc khai thác dữ liệu điện tử.

Đây là thay đổi lớn về nguyên lý phục vụ: trách nhiệm khai thác dữ liệu thuộc về cơ quan Nhà nước, không đẩy gánh nặng chứng minh sang người dân, doanh nghiệp. Qua đó, hồ sơ đơn giản hơn, thời gian giải quyết ngắn hơn và chi phí tuân thủ thấp hơn.

Thứ hai, đối với người lao động, dữ liệu điện tử chính là "bằng chứng" về quá trình, kinh nghiệm làm việc ở nước ngoài và là chìa khóa cho việc làm khi trở về.

Người lao động học tiếng Hàn tại Trung tâm Dịch vụ việc làm (Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Hưng Yên) trước khi đi xuất khẩu. (Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN)

Mỗi người lao động được quản lý bằng mã số trên cơ sở dữ liệu chuyên ngành, ghi nhận đầy đủ ngành nghề, vị trí, thị trường và thời gian làm việc ở nước ngoài.

Nguồn dữ liệu khách quan này có thể được sử dụng làm cơ sở cho việc công nhận trình độ, kỹ năng nghề của người lao động gắn với chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, để kinh nghiệm tích lũy ở nước ngoài trở thành năng lực nghề nghiệp được ghi nhận chính thức, có giá trị lâu dài.

Cùng với đó, trên nền tảng kết nối với Cơ sở dữ liệu thị trường lao động, cơ quan quản lý và các trung tâm dịch vụ việc làm có thể chủ động kết nối việc làm phù hợp cho người lao động sau khi về nước, đặc biệt là tại các khu công nghiệp, doanh nghiệp FDI ngay trên địa bàn người lao động cư trú, nơi rất cần lao động có kỹ năng, ngoại ngữ và tác phong công nghiệp. Đây là điều mà trước đây, khi chưa có dữ liệu, gần như bỏ ngỏ.

Một thay đổi khác là tăng cường minh bạch hóa thông tin, dữ liệu để hình thành môi trường kinh doanh kiến tạo, khuyến khích doanh nghiệp làm tốt, hạn chế doanh nghiệp làm ăn không nghiêm túc.

Thông tin, dữ liệu về các hợp đồng cung ứng lao động (đơn hàng), mức phí được phép thu, cùng với kết quả xử phạt vi phạm hành chính của doanh nghiệp sẽ được công khai để người dân tra cứu, đối chiếu, đánh giá và lựa chọn trước khi quyết định.

Khi thông tin minh bạch, người lao động sẽ tự tìm đến những doanh nghiệp có uy tín, chi phí đúng quy định, lịch sử tuân thủ tốt, còn doanh nghiệp vi phạm sẽ chịu sự sàng lọc của thị trường bên cạnh chế tài của Nhà nước.

Minh bạch dữ liệu, vì vậy, không chỉ là công cụ bảo vệ người lao động mà còn là chính sách khuyến khích những doanh nghiệp làm ăn chân chính phát triển.

- Bộ Nội vụ sẽ làm gì để những cải cách này thực sự đi vào cuộc sống?

Thứ trưởng Vũ Chiến Thắng: Trước hết là phải hoàn thiện đồng bộ hệ thống văn bản quy định chi tiết trước khi Luật có hiệu lực ngày 1/3/2027.

Bộ Nội vụ đang khẩn trương xây dựng dự thảo, lấy ý kiến các cơ quan liên quan, trình Chính phủ ban hành nghị định và ban hành theo thẩm quyền các thông tư quy định chi tiết, bảo đảm không có khoảng trống pháp lý, các thủ tục, quyền và nghĩa vụ đang thực hiện không bị gián đoạn trong quá trình chuyển tiếp.

Thứ hai là chuẩn bị năng lực thực hiện nhiệm vụ mới được giao, nhất là ở địa phương. Các nhiệm vụ mới phân quyền cho cấp tỉnh, cấp xã sẽ được tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ cụ thể; nguồn lực thực hiện nhiệm vụ phân quyền, phân cấp được ngân sách Nhà nước bảo đảm theo quy định.

Bộ sẽ theo dõi sát quá trình thực hiện tại địa phương, kịp thời tháo gỡ vướng mắc, điều chỉnh khi thực tiễn phát sinh vấn đề vượt thẩm quyền của cơ sở.

Thứ ba, chuyển đổi số phải trở thành động lực thay đổi phương thức làm việc. Chuyển đổi số ở đây không đơn thuần là đưa thủ tục lên mạng, mà là thay đổi căn bản cách thức cơ quan quản lý vận hành: chuyển từ tiếp nhận, xử lý hồ sơ giấy sang giải quyết toàn trình trên môi trường điện tử; từ yêu cầu người dân, doanh nghiệp chứng minh bằng giấy tờ sang khai thác dữ liệu đã được kết nối, liên thông giữa cơ sở dữ liệu chuyên ngành; từ quản lý theo báo cáo hành chính định kỳ sang theo dõi, giám sát, cảnh báo bằng dữ liệu theo thời gian thực.

Trên nền tảng đó, Bộ Nội vụ sẽ tiếp tục duy trì và nâng cao tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến toàn trình; công khai, minh bạch thông tin thị trường, danh sách doanh nghiệp được cấp phép và doanh nghiệp vi phạm để người dân tra cứu, giám sát. Đồng thời, đẩy mạnh truyền thông chính sách trên các nền tảng số, mạng xã hội tới tận thôn, xã đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, nơi người lao động dễ bị đối tượng xấu lợi dụng thiếu thông tin.

Khi phương thức giải quyết công việc đã được số hóa toàn trình, minh bạch và lượng hóa được, thì cải cách sẽ được bảo đảm vận hành ổn định, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của từng khâu, từng cán bộ.

Cuối cùng là tăng cường hậu kiểm và phát huy giám sát xã hội. Chúng tôi sẽ kiểm tra định kỳ, đột xuất, phối hợp liên ngành với Bộ Công an và chính quyền địa phương; xử lý nghiêm, công khai kết quả xử lý để tạo sức răn đe. Đồng thời, phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, báo chí và chính người lao động.

Cải cách chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi người lao động cảm nhận được thủ tục nhanh hơn, chi phí thấp hơn, thông tin rõ ràng hơn và được bảo vệ tốt hơn. Đó là thước đo mà chúng tôi hướng tới.

- Trân trọng cảm ơn Thứ trưởng./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục