Sau loạt bài “Phá rào cản, khơi nguồn lực: Việt Nam quyết liệt hành động xây dựng quốc gia biển mạnh” được Báo Điện tử VietnamPlus đăng tải, bà Ramla Khalidi - Trưởng Đại diện Thường trú Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam đề xuất 8 nhóm giải pháp trọng tâm giúp Việt Nam hiện thực hoá mục tiêu trở thành quốc gia biển mạnh trong thời gian tới.
Trao đổi với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, bà Ramla Khalidi nhấn mạnh để biến tiềm năng biển thành động lực phát triển, điều quan trọng là Việt Nam cần phải chuyển những nền tảng chính sách thành hành động cụ thể, thúc đẩy quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và huy động hiệu quả nguồn lực, giúp cộng đồng ven biển có sinh kế bền vững.
"Biển là một tài sản chiến lược của Việt Nam"
- Thưa bà Ramla Khalidi, từ góc nhìn của UNDP, bà đánh giá thế nào về những lợi thế nổi trội và tiềm năng khác biệt của Việt Nam để phát triển kinh tế biển?
Bà Ramla Khalidi: Việt Nam có những lợi thế rất đặc biệt để phát triển kinh tế biển. Trong đó, lợi thế chiến lược là không chỉ được đo bằng chiều dài đường bờ biển, mà còn nằm ở khả năng kết nối với các dòng chảy kinh tế, năng lượng và sinh thái của khu vực và thế giới.
Từ góc nhìn của UNDP, biển là một tài sản chiến lược của Việt Nam. Với đường bờ biển dài hơn 3.260km, vùng biển rộng lớn và vị trí nằm trên các tuyến hàng hải quan trọng của thế giới, Việt Nam có điều kiện thuận lợi để thúc đẩy thương mại, logistics, dịch vụ cảng biển và tăng cường kết nối với các thị trường khu vực và toàn cầu.
Một lợi thế đặc biệt khác là tiềm năng trở thành trung tâm của các ngành kinh tế xanh và carbon thấp. Tiềm năng điện gió ngoài khơi thuộc nhóm cao nhất khu vực ước tính hơn 1.000 GW, cùng với những cơ hội mới trong các lĩnh vực như hydro xanh, vận tải biển xanh và hạ tầng thích ứng khí hậu, có thể tạo động lực tăng trưởng mới, đồng thời hỗ trợ hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Với lợi thế vị trí địa lý, không gian biển, năng lượng, nguồn vốn tự nhiên, Việt Nam có nền tảng rất thuận lợi để hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia biển mạnh.
Việt Nam cũng sở hữu nguồn vốn tự nhiên biển rất phong phú, với hơn 11.000 loài sinh vật biển cùng các hệ sinh thái quan trọng như rạn san hô, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn. Việt Nam nằm ở trung tâm ASEAN - khu vực chỉ chiếm khoảng 3% diện tích đất liền toàn cầu nhưng là nơi có hơn 25% số loài thực vật và động vật đã được mô tả trên thế giới.
Các hệ sinh thái biển và ven biển này không chỉ hỗ trợ sinh kế trực tiếp cho hơn 4 triệu lao động trong ngành thủy sản, mà còn có khả năng lưu trữ carbon cao. Đây là nguồn vốn tự nhiên rất quan trọng để vừa phát triển gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, tăng khả năng chống chịu của các cộng đồng ven biển, vừa mở ra những cơ hội mới từ carbon xanh và các mô hình kinh tế dựa vào thiên nhiên.
Nếu tiếp tục thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tăng cường quản trị biển tổng hợp và huy động hiệu quả đầu tư công và tư cho các giải pháp dựa vào thiên nhiên, Việt Nam hoàn toàn có thể hiện thực hóa khát vọng trở thành một quốc gia biển mạnh, thịnh vượng và phát triển bền vững trong thế kỷ XXI.
- Vậy theo bà đâu là những giải pháp quan trọng nhất mà Việt Nam cần ưu tiên để hiện thực hoá mục tiêu trở thành quốc gia biển mạnh trong thời gian tới?
Bà Ramla Khalidi: Gần tám năm qua, kể từ khi Nghị quyết số 36-NQ/TW được ban hành, Việt Nam đã đạt được một số bước tiến quan trọng trong việc đặt nền móng cho phát triển kinh tế biển theo hướng xanh và bền vững.
Đặc biệt gần đây, Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, đã đặt ra yêu cầu chuyển đổi tư duy mạnh mẽ trên hai phương diện: Một là từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại. Hai là từ phát triển kinh tế biển rời rạc theo từng ngành, lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia.
Tuy vậy, thực tế vẫn còn một khoảng cách đáng kể giữa tiềm năng rất lớn của kinh tế biển và việc chuyển tiềm năng đó thành giá trị kinh tế, xã hội và môi trường ở quy mô rộng hơn. Do đó, theo tôi, có bốn vấn đề cần được ưu tiên trong thời gian tới. Thứ nhất, Việt Nam cần tăng cường phối hợp trong quản trị không gian biển và chuyển từ quy hoạch sang thực thi hiệu quả.
Thứ hai, cần đẩy nhanh bảo tồn thiên nhiên biển. Thứ ba, cần tăng cường hạ tầng dữ liệu biển và tháo gỡ những vướng mắc trong cơ chế giao khu vực biển. Thứ tư, Việt Nam cần tiếp tục phát triển các cơ chế tài chính xanh cho kinh tế biển. Điều quan trọng là phát triển kinh tế biển xanh không chỉ mang lại lợi ích về môi trường mà còn có ý nghĩa kinh tế rõ ràng.
Nghiên cứu “Kịch bản kinh tế biển xanh cho Việt Nam” của UNDP cho thấy, nếu áp dụng các kịch bản phát triển biển xanh, GDP của các ngành kinh tế biển vào năm 2030 có thể đạt 70,1 tỷ USD, đóng góp tới 35% GDP cả nước, cao hơn khoảng 34% (tương đương 23,5 tỷ USD) so với phát triển thông thường.
Vì vậy, ưu tiên trong giai đoạn tới là chuyển những nền tảng chính sách đã được thiết lập thành hành động cụ thể, để Việt Nam có thể tạo ra nhiều giá trị hơn từ biển, đồng thời duy trì một đại dương khỏe mạnh và bảo đảm sinh kế bền vững cho các cộng đồng ven biển.
Những ưu tiên để chuyển tiềm năng biển thành giá trị bền vững
- Từ kinh nghiệm của UNDP tại Việt Nam và trên thế giới, bà có thể chia sẻ một số mô hình kinh tế biển xanh phù hợp với điều kiện của Việt Nam, để vừa tạo sinh kế và giá trị kinh tế, vừa góp phần bảo vệ, phục hồi hệ sinh thái biển?
Bà Ramla Khalidi: Qua nghiên cứu, chúng tôi xác định 5 nhóm mô hình kinh tế biển xanh có tiềm năng với Việt Nam, gồm: Thủy sản và nuôi biển công nghệ cao; du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng; cảng biển xanh; năng lượng tái tạo biển; các mô hình dựa trên vốn tự nhiên như carbon xanh và bảo tồn biển. Đây là những mô hình có khả năng hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tạo sinh kế với bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái, đồng thời nâng cao giá trị của tài nguyên biển.
Tuy nhiên, để các mô hình trên có thể phát triển và được nhân rộng, Việt Nam vẫn cần giải quyết một số khoảng trống quan trọng. Trước hết là sự thiếu hụt các cơ chế thực thi và công cụ kinh tế-tài chính đủ hấp dẫn để thu hút khu vực tư nhân và cộng đồng. Bên cạnh đó là sự phân mảnh trong phối hợp liên ngành, năng lực thiết kế mô hình ở cấp địa phương còn hạn chế, cũng như những khoảng trống về dữ liệu trong hệ thống giám sát, báo cáo và thẩm định - MRV.
Một điểm đặc biệt quan trọng là mỗi nhóm mô hình có chu kỳ đầu tư, hồ sơ rủi ro, khả năng sinh lợi và nhu cầu vốn khác nhau. Nuôi biển, du lịch cộng đồng, năng lượng tái tạo hay carbon xanh không thể được hỗ trợ bằng cùng một cơ chế tài chính. Vì vậy, các chính sách và công cụ tài chính cần đủ linh hoạt để phù hợp với đặc thù và mức độ sẵn sàng của từng nhóm mô hình.
Cùng với đó, Việt Nam cũng cần thiết kế các chính sách ưu đãi linh hoạt và các công cụ tài chính xanh chuyên biệt, phù hợp với hồ sơ rủi ro của từng mô hình; đồng thời tăng cường phối hợp liên ngành, nâng cao năng lực quản trị ở cấp địa phương và hoàn thiện hệ thống dữ liệu MRV.
Quan trọng hơn, Việt Nam cần tạo ra một môi trường chính sách minh bạch và ổn định, giúp giảm rủi ro và củng cố niềm tin của nhà đầu tư, đồng thời bảo đảm cộng đồng địa phương có thể tham gia và được hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi.
- Trên thế giới, một số quốc gia đã thành công trong việc đưa kinh tế biển xanh trở thành một động lực quan trọng cho tăng trưởng và tạo việc làm. Vậy theo bà, Việt Nam có thể rút ra những bài học gì từ kinh nghiệm này?
Bà Ramla Khalidi: Khi nói về việc kết hợp giữa phát triển kinh tế biển quy mô lớn và bảo vệ hệ sinh thái, Na Uy là một kinh nghiệm quốc tế đáng chú ý và có nhiều hàm ý chính sách đối với Việt Nam.
Một trong những kinh nghiệm nổi bật của Na Uy là quản trị biển tích hợp dựa trên khoa học. Từ đầu những năm 2000, Na Uy đã xây dựng các kế hoạch quản lý tích hợp cho những vùng biển chiến lược như biển Barents, biển Na Uy và biển Bắc, với cơ chế điều phối liên bộ, liên ngành để phân bổ không gian cho dầu khí, điện gió ngoài khơi, thủy sản, hàng hải và bảo tồn.
Bên cạnh đó, Na Uy đã chuyển dịch chuỗi giá trị kinh tế biển từ thâm dụng tài nguyên sang công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn. Trong thủy sản, thay vì tiếp tục gia tăng khai thác tự nhiên, Na Uy phát triển nuôi biển công nghệ cao, quản lý dịch bệnh nghiêm ngặt và nâng cao giá trị thông qua chất lượng, truy xuất nguồn gốc và thương hiệu toàn cầu. Cá hồi Na Uy là một ví dụ rất rõ.
Trong hàng hải và năng lượng, nước này cũng đi đầu trong điện hóa đội tàu, phát triển cảng xanh và tận dụng năng lực, hạ tầng từ ngành dầu khí để hỗ trợ điện gió ngoài khơi. Một nền tảng quan trọng khác là dữ liệu biển minh bạch và được chia sẻ. Các nền tảng dữ liệu đại dương số hóa giúp Chính phủ thường xuyên cập nhật quy hoạch, cung cấp thông tin đáng tin cậy cho các quyết định đầu tư dài hạn.
Từ kinh nghiệm trên, Việt Nam có thể rút ra một số bài học quan trọng. Trước hết, sau khi Quy hoạch không gian biển quốc gia được phê duyệt, cần chuyển sang thực thi hiệu quả và tăng cường điều phối liên ngành.
Việc hoàn thiện hành lang pháp lý cho trái phiếu xanh, tín chỉ carbon biển và các mô hình hợp tác công-tư có thể giúp mở rộng nguồn vốn trong nước và quốc tế cho kinh tế biển xanh.
Thứ hai, Việt Nam cần tiếp tục xanh hóa và nâng cấp chuỗi giá trị của các ngành kinh tế biển, chuyển từ mở rộng khai thác sang ứng dụng công nghệ, nâng cao chất lượng, truy xuất nguồn gốc và gia tăng giá trị. Thứ ba, tiếp tục phát triển các công cụ tài chính xanh để huy động nguồn lực tư nhân.
Cuối cùng là cần tăng cường dữ liệu và công cụ đo lường ở cấp địa phương.
Hiện nay, UNDP đã bước đầu nghiên cứu Bộ chỉ số kinh tế biển cấp tỉnh (VN-BEI) dựa trên khung đo lường quốc tế và kinh nghiệm thực tiễn từ các quốc gia tiên phong, nhằm hỗ trợ cho 21 địa phương có biển, theo 4 trụ cột, bao gồm: Kinh tế, xã hội, môi trường và quản trị, để theo dõi chất lượng tăng trưởng, mức độ xanh hóa và khả năng thu hút đầu tư bền vững, qua đó tăng cường minh bạch và hỗ trợ hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng.
Trân trọng cảm ơn bà!./.
Phá rào cản, khơi nguồn lực: Việt Nam quyết liệt hành động xây dựng Quốc gia biển mạnh
Khi tư duy được đổi mới, thể chế được khai thông, tiềm năng được khai thác hiệu quả, khát vọng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh sẽ không còn chỉ là tầm nhìn, mà sẽ từng bước được hiện thực hóa.