Cần Thơ nâng cao chất dòng vốn FDI, tạo động lực tăng trưởng mới

Trong 8 tháng đầu năm 2026, thành phố Cần Thơ thu hút 3 dự án FDI mới với tổng vốn đăng ký 25,22 triệu USD, nâng tổng số dự án FDI lên 125, với tổng vốn đăng ký hơn 7,153 tỷ USD.
Công nhân Công ty Trách nhiệm hữu hạn TKG Tae Kwang Cần Thơ trong giờ làm việc. (Ảnh: Thanh Liêm/TTXVN)

Sau khi mở rộng không gian phát triển, cùng sự hình thành và hoàn thiện của mạng lưới giao thông, khu công nghiệp và các trung tâm logistics, Cần Thơ đang đứng trước cơ hội định hình lại vai trò trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Mục tiêu trong giai đoạn mới không chỉ là thu hút thêm vốn, mà quan trọng hơn là giữ lại nhiều hơn giá trị từ mỗi dự án đầu tư.

Không chỉ nhìn vào số vốn đăng ký

Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn là một bộ phận quan trọng của kinh tế Cần Thơ, song quy mô vốn đăng ký chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả và mức độ đóng góp của dòng vốn này đối với tăng trưởng.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Phan Anh Tú, Phó Hiệu trưởng Trường Kinh tế, Đại học Cần Thơ, FDI đang là một “trụ đỡ” tương đối ổn định đối với kinh tế thành phố, nhưng chưa trở thành động lực tăng trưởng mới. Vì vậy, thay vì gia tăng đơn thuần số dự án và vốn đăng ký, Cần Thơ cần chú trọng lựa chọn dòng vốn phù hợp, rút ngắn thời gian đưa dự án vào hoạt động, nâng năng lực hấp thụ và tăng liên kết giữa doanh nghiệp FDI với khu vực trong nước.

Trong quý II và 6 tháng đầu năm 2026, Cần Thơ không ghi nhận dự án FDI nào chấm dứt hoạt động. Thành phố cấp mới 2 dự án với tổng vốn đăng ký 211.108 USD, trong khi 3 dự án đang hoạt động điều chỉnh tăng vốn thêm 13,56 triệu USD; trong đó, Công ty De Heus chi nhánh Cần Thơ tăng 1,53 triệu USD; Công ty Wilmar Agro Việt Nam tăng 4,94 triệu USD và Dược Hậu Giang tăng 7,09 triệu USD.

Việc các nhà đầu tư hiện hữu tiếp tục tăng vốn cho thấy khả năng duy trì hoạt động và niềm tin của doanh nghiệp đối với môi trường đầu tư. Đây cũng là cơ sở để thành phố coi việc đồng hành, tháo gỡ khó khăn và tạo điều kiện cho các dự án đang hoạt động mở rộng là một phần quan trọng của xúc tiến đầu tư.

Trong 2 quý đầu năm 2026, khu vực FDI tại Cần Thơ đạt doanh thu khoảng 1,196 tỷ USD, trong khi kim ngạch xuất khẩu đạt 430,63 triệu USD, tương đương khoảng 36% doanh thu. Cơ cấu này cho thấy nhiều doanh nghiệp FDI vẫn tập trung vào chế biến nông, thủy sản, thức ăn chăn nuôi, dược phẩm và cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho thị trường trong nước và khu vực.

Theo Tiến sỹ Trần Hữu Hiệp, chuyên gia kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long, trong 8 tháng đầu năm 2026, Cần Thơ thu hút 3 dự án FDI mới với tổng vốn đăng ký 25,22 triệu USD, nâng tổng số dự án FDI lên 125, với tổng vốn đăng ký hơn 7,153 tỷ USD. Tại các khu chế xuất, khu công nghiệp và cụm công nghiệp do Ban Quản lý quản lý có 45 dự án FDI, tổng vốn đăng ký hơn 4,66 tỷ USD, vốn thực hiện hơn 1,23 tỷ USD, tương đương khoảng 26,4%.

Từ thực tế này, các chuyên gia cho rằng hiệu quả FDI cần được đánh giá bằng những chỉ tiêu rộng hơn như giá trị gia tăng trên mỗi đồng vốn, chất lượng việc làm, mức độ chuyển giao công nghệ, khả năng tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng và đóng góp vào năng lực cạnh tranh địa phương.

Do đó, Cần Thơ không nhất thiết chạy theo những dự án có vốn đăng ký lớn, mà cần ưu tiên dự án phù hợp lợi thế, tạo giá trị gia tăng cao, liên kết với doanh nghiệp trong nước và mở rộng thị trường xuất khẩu.

Trong 8 tháng đầu năm 2026, Cần Thơ thu hút 3 dự án FDI mới với tổng vốn đăng ký 25,22 triệu USD, nâng tổng số dự án FDI lên 125. (Ảnh: Tuấn Phi/TTXVN)

Khâu xúc tiến đầu tư cũng cần chuyển từ giới thiệu, gặp gỡ sang chủ động chuẩn bị “sản phẩm đầu tư” cụ thể. Trong 8 tháng đầu năm, Ban Quản lý các Khu chế xuất và Công nghiệp đã tiếp và làm việc với khoảng 30 nhà đầu tư; trong 7 tháng, thành phố đón 525 đoàn với 3.535 lượt khách nước ngoài. Tuy nhiên, số dự án FDI mới vẫn khiêm tốn.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Phan Anh Tú, Cần Thơ cần xây dựng bộ hồ sơ “sẵn sàng đầu tư” cho từng khu công nghiệp ưu tiên, thể hiện rõ quỹ đất sạch, quy hoạch, hạ tầng, giá thuê đất, khả năng cung cấp điện, nước, xử lý nước thải và thời gian giải quyết các thủ tục liên ngành. Đây là cách chuyển xúc tiến đầu tư từ “mời gọi” sang chủ động kiến tạo danh mục dự án.

Hạ tầng mở rộng, liên kết để tạo giá trị

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, hệ thống khu công nghiệp của thành phố trải rộng từ Trà Nóc, Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh, Tân Phú Thạnh, Đông Phú, Sông Hậu đến An Nghiệp, Trần Đề, Đại Ngãi, Long Thạnh, Tân Bình. Thành phố cũng đang phối hợp khảo sát, đề xuất quy mô, ranh giới Khu kinh tế Trần Đề, mở thêm dư địa cho công nghiệp, logistics và kinh tế biển.

Hạ tầng giao thông liên vùng được kỳ vọng tiếp tục làm thay đổi lợi thế địa điểm của Cần Thơ. Tuyến đường sắt Thành phố Hồ Chí Minh-Cần Thơ dài 175,2km, đi qua 5 tỉnh, thành phố, được kỳ vọng góp phần tái cấu trúc không gian kinh tế và giảm chi phí logistics. Hiện chi phí logistics tại Đồng bằng sông Cửu Long ở mức khoảng 18-22% giá trị hàng hóa; dự án phấn đấu khởi công năm 2027.

Cùng với các tuyến cao tốc Châu Đốc-Cần Thơ-Sóc Trăng, Cần Thơ-Cà Mau, hệ thống quốc lộ và định hướng kết nối cảng biển Trần Đề, mạng lưới hạ tầng tạo điều kiện để Cần Thơ phát huy vai trò trung tâm kết nối sản xuất, logistics, dịch vụ và thị trường của toàn vùng.

Tuy nhiên, hạ tầng chỉ tạo ra cơ hội; khả năng biến cơ hội thành dòng vốn và giá trị kinh tế phụ thuộc vào năng lực chuẩn bị của địa phương. Tại Ban Quản lý các Khu chế xuất và Công nghiệp, 100% hồ sơ được tiếp nhận, giải quyết đúng hạn, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt 95,3%. Song những điểm nghẽn vẫn xuất hiện ở giải phóng mặt bằng tại các khu công nghiệp Vĩnh Thạnh giai đoạn 2, Đông Phú 2, Sông Hậu 2 và trong phối hợp xử lý thủ tục về đất đai, quy hoạch, môi trường, điều chỉnh chủ trương đầu tư.

Vì vậy, bên cạnh cải cách thủ tục hành chính, Cần Thơ cần nâng năng lực phối hợp liên ngành, chuẩn bị quỹ đất sạch và đầu tư đồng bộ hạ tầng khu công nghiệp.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Phan Anh Tú, nhân lực và logistics chưa phải rào cản lớn nhất đối với FDI hiện nay, nhưng có thể trở thành yếu tố quyết định đối với dòng vốn tương lai. Do đó, đào tạo nhân lực cần đi trước, gắn với nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp.

Một hướng đi khác là xây dựng “bản đồ đầu tư” của vùng, xác định rõ vai trò và lợi thế của từng địa bàn trong chuỗi giá trị, tránh cạnh tranh thu hút đầu tư phân tán. Cần Thơ có thể phát huy thế mạnh về logistics, tài chính, khoa học-công nghệ, nhân lực chất lượng cao và dịch vụ doanh nghiệp; các địa phương khác đảm nhiệm những khâu phù hợp về nguyên liệu, chế biến, năng lượng và kinh tế biển.

Cao tốc Cần Thơ-Cà Mau đoạn qua xã Vị Thủy, thành phố Cần Thơ. (Ảnh: Thanh Liêm/TTXVN)

Định hướng này mở ra dư địa cho thế hệ FDI mới trong chế biến sâu nông, thủy sản, công nghệ thực phẩm, công nghệ sinh học, logistics đa phương thức, kinh tế tuần hoàn, năng lượng sạch, tự động hóa, chuyển đổi số và các dịch vụ dựa trên tri thức.

Đặc biệt, FDI cần được đặt trong mối quan hệ hai chiều với doanh nghiệp trong nước. Cần Thơ cần khảo sát 125 dự án FDI, xác định nhu cầu đầu vào và xây dựng chương trình phát triển nhà cung ứng địa phương. Khi doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, giá trị FDI sẽ lan tỏa qua đơn hàng, công nghệ, kỹ năng quản trị và tiêu chuẩn sản xuất.

Đại học Cần Thơ có thể tham gia xây dựng trung tâm dữ liệu và quan trắc đầu tư nước ngoài của vùng, hỗ trợ xây dựng bộ chỉ số hiệu quả FDI, khảo sát doanh nghiệp và cung cấp cơ sở khoa học cho hoạch định chính sách.

Theo Tiến sỹ Trần Hữu Hiệp, Cần Thơ đang đứng trước “cửa sổ cơ hội” để nâng cấp dòng vốn FDI, nhưng cần chuyển từ tư duy thu hút vốn sang lựa chọn, hấp thụ và lan tỏa giá trị đầu tư. Hiệu quả FDI cần được nhìn từ lượng giá trị gia tăng giữ lại, việc làm chất lượng, công nghệ và năng lực quản trị được chuyển giao, cùng mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào các chuỗi giá trị. Qua đó, Cần Thơ có thể phát huy đầy đủ hơn vai trò trung tâm của Đồng bằng sông Cửu Long, trở thành đầu mối kết nối nguồn lực, thị trường, logistics, tri thức và doanh nghiệp; biến lợi thế về không gian và hạ tầng thành năng lực cạnh tranh, biến dòng vốn FDI thành nguồn lực cho tăng trưởng và phát triển bền vững của thành phố và toàn vùng./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục