Hà Nội thử nghiệm sản xuất oxide đất hiếm hàm lượng trên 95%

Hà Nội cho phép thử nghiệm công nghệ sản xuất tổng oxide đất hiếm hàm lượng trên 95% từ quặng trong nước quy mô bán công nghiệp, được giám sát bằng 33 chỉ tiêu về kỹ thuật, môi trường, an toàn bức xạ.

Ảnh minh họa. (Ảnh: Quốc Khánh/TTXVN)
Ảnh minh họa. (Ảnh: Quốc Khánh/TTXVN)

Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội cho phép thử nghiệm có kiểm soát công nghệ sản xuất tổng oxide đất hiếm hàm lượng trên 95% từ quặng trong nước ở quy mô bán công nghiệp. Quá trình thử nghiệm kéo dài 18 tháng và được giám sát bằng 33 chỉ tiêu về kỹ thuật, môi trường, an toàn bức xạ.

Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội Trương Việt Dũng đã ký ban hành Quyết định số 4657/QĐ-UBND ngày 1/9/2026, cho phép Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng và Công nghệ mỏ thực hiện dự án "Thử nghiệm triển khai sản xuất tổng oxide đất hiếm hàm lượng trên 95% ở quy mô bán công nghiệp từ quặng đất hiếm của Việt Nam."

Thời gian thử nghiệm là 18 tháng kể từ ngày quyết định có hiệu lực. Phạm vi thử nghiệm là quy trình sản xuất tổng oxide đất hiếm (TREO) hàm lượng trên 95% từ quặng đất hiếm của Việt Nam ở quy mô bán công nghiệp.

Dây chuyền có công suất thiết kế 100 kg quặng nguyên khai/giờ. Tổng khối lượng quặng nguyên khai được phép sử dụng tối đa là 100 tấn, có nguồn gốc từ mỏ Đông Pao, tỉnh Lai Châu.

Công nghệ được áp dụng theo Bằng độc quyền sáng chế số 33663, gồm hai công đoạn chính: tuyển nổi làm giàu tinh quặng và thủy luyện sản xuất tổng oxide đất hiếm.

Dây chuyền được thiết kế tích hợp, liên hoàn và vận hành theo mô hình khép kín nhằm kiểm soát dòng vật chất, thông số kỹ thuật, yếu tố môi trường và an toàn trong quá trình thử nghiệm.

Mục tiêu của dự án là xác định mức độ ổn định, hiệu quả vận hành của công nghệ sản xuất tổng oxide đất hiếm hàm lượng trên 95% ở quy mô bán công nghiệp; đánh giá khả năng mở rộng và triển khai công nghệ ở quy mô công nghiệp.

Quá trình thử nghiệm cũng nhằm xác định các thông số công nghệ, hiệu quả sử dụng nguyên liệu, hóa chất và năng lượng; qua đó hạn chế rủi ro trong thiết kế, đầu tư mở rộng dây chuyền.

Kết quả thu được sẽ tạo cơ sở khoa học và thực tiễn để hoàn thiện quy trình công nghệ, xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế-kỹ thuật và quy định quản lý hoạt động chế biến sâu đất hiếm.

Công nghệ thử nghiệm áp dụng giải pháp tuần hoàn nước trong công đoạn thủy luyện, kết hợp thu hồi các sản phẩm, phụ phẩm có giá trị như barit, fluorit và natri hexafluorosilicat (Na₂SiF₆).

Giải pháp này góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và hạn chế phát sinh chất thải.Toàn bộ quá trình vận hành được giám sát bằng hệ thống camera và bộ chỉ tiêu KPI gồm 33 chỉ tiêu về kỹ thuật, môi trường và an toàn bức xạ, làm căn cứ kiểm soát, theo dõi và đánh giá kết quả thử nghiệm.

Ủy ban Nhân dân thành phố giao Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan hướng dẫn, giám sát, kiểm tra và đánh giá quá trình thử nghiệm; đồng thời xử lý các vấn đề phát sinh theo thẩm quyền.

Trường hợp cần thiết, Sở Khoa học và Công nghệ quyết định thành lập tổ giám sát, đánh giá liên ngành, gồm đại diện các cơ quan, đơn vị liên quan và chuyên gia phù hợp để hướng dẫn, giám sát, kiểm soát quá trình thử nghiệm.

Trong thời gian thực hiện, doanh nghiệp được tạm thời không áp dụng một số quy định của pháp luật chuyên ngành dành cho cơ sở chế biến khoáng sản quy mô công nghiệp. Cơ chế này chỉ áp dụng trong phạm vi, quy mô, địa điểm, thời gian và nội dung thử nghiệm được Ủy ban Nhân dân thành phố chấp thuận.

Việc tạm thời không áp dụng một số quy định chỉ dành cho hoạt động thử nghiệm trên dây chuyền bán công nghiệp nhằm kiểm chứng, đánh giá và hoàn thiện công nghệ; không áp dụng đối với hoạt động đầu tư xây dựng, vận hành cơ sở chế biến khoáng sản quy mô công nghiệp hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh thương mại.

Về môi trường, trong phạm vi hoạt động thử nghiệm được chấp thuận, dự án được tạm thời không áp dụng trình tự, thủ tục lập, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường và cấp giấy phép môi trường như đối với dự án đầu tư sản xuất, chế biến khoáng sản quy mô công nghiệp.

Thay vào đó, việc quản lý, kiểm soát môi trường được thực hiện thông qua báo cáo biện pháp phòng ngừa, quản lý và khắc phục rủi ro môi trường, hệ thống KPI cùng cơ chế giám sát trực tiếp.

Doanh nghiệp vẫn phải tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải, khí thải, gồm QCVN 07:2025/BNNMT, QCVN 19:2024/BTNMT và các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan; đồng thời chịu sự giám sát trực tiếp của tổ giám sát.

Trong lĩnh vực an toàn bức xạ và quản lý vật liệu phóng xạ tự nhiên, việc tạm thời không áp dụng chỉ giới hạn ở trình tự, thủ tục hành chính, không làm thay đổi trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc thực hiện đầy đủ các yêu cầu về an toàn bức xạ, an ninh nguồn phóng xạ, quản lý chất thải NORM và bảo vệ người lao động.

Doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ phương án bảo đảm an toàn bức xạ, quản lý chất thải NORM và tẩy xạ; chịu sự giám sát của tổ giám sát và cơ quan có thẩm quyền theo quy định.

Trong lĩnh vực xây dựng, dự án được tạm thời không áp dụng trình tự, thủ tục cấp giấy phép xây dựng đối với các hạng mục cải tạo, lắp đặt và xây dựng phục vụ trực tiếp hoạt động thử nghiệm trong phạm vi, thời gian và nội dung được Ủy ban Nhân dân thành phố chấp thuận.

Việc tạm thời không áp dụng thủ tục hành chính không làm thay đổi trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc bảo đảm chất lượng công trình, an toàn chịu lực, an toàn lao động, phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ môi trường và tuân thủ đầy đủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục

Ông Hà Thúc Viên, Phó hiệu trưởng Trường đại học Việt Đức phát biểu tại hội thảo. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Hệ thống số hóa quy mô lớn của đường sắt hiện đại đặt ra bài toán công nghệ và nhân lực

Theo các chuyên gia tham gia tọa đàm, đường sắt hiện đại không chỉ là công trình hạ tầng mà còn là một "Hệ thống số hóa quy mô lớn" với phần mềm và công nghệ là trung tâm. Bên cạnh năng lực xây dựng truyền thống, Việt Nam đang đối mặt với ba khoảng trống năng lực cần được lấp đầy.