Sau hợp nhất, với trên 577 nghìn ha đất quy hoạch lâm nghiệp và rừng, tỷ lệ che phủ đạt khoảng 62,4%, tỉnh Thái Nguyên đang đứng trước cơ hội lớn để phát triển kinh tế lâm nghiệp theo hướng đa giá trị.
Không chỉ khai thác hiệu quả rừng gỗ trồng, tỉnh xác định phát triển lâm sản ngoài gỗ trở thành một trong những ngành hàng chủ lực giai đoạn 2026-2030, góp phần nâng cao giá trị tài nguyên rừng, tạo sinh kế bền vững cho người dân và thúc đẩy tăng trưởng xanh.
Phát huy lợi thế
Theo ông Nguyễn Công Lệnh, Phó Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên, sau hợp nhất, địa phương có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ nhờ diện tích rừng lớn, hệ sinh thái đa dạng và vùng sinh thái phong phú. Tuy nhiên, tiềm năng này vẫn chưa được khai thác tương xứng với lợi thế sẵn có.
Hiện toàn tỉnh có khoảng 84 nghìn ha tre, trúc cùng nhiều diện tích hồi, quế và các loại dược liệu dưới tán rừng. Đây đều là những nhóm cây trồng có khả năng thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên, vừa góp phần bảo vệ đất, giữ nước, chống xói mòn, vừa tạo nguồn thu ổn định cho người dân miền núi.
Đặc biệt, trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng xanh ngày càng phát triển, tre và các loại lâm sản ngoài gỗ không chỉ phục vụ sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ mà còn được sử dụng làm nguyên liệu cho nhiều ngành chế biến hiện đại như vật liệu xây dựng, đồ nội thất, ván công nghiệp, than hoạt tính, viên nén sinh khối và các sản phẩm xuất khẩu có giá trị gia tăng cao.
Thị trường quốc tế cũng đang ưu tiên các sản phẩm hữu cơ, có truy xuất nguồn gốc, thân thiện với môi trường và đáp ứng các tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội. Đây là cơ hội để các sản phẩm hồi, quế và gia vị của Thái Nguyên tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, thay vì chỉ xuất khẩu nguyên liệu thô như trước.
Xây dựng chuỗi giá trị
Mặc dù có nhiều lợi thế, song việc phát triển lâm sản ngoài gỗ trên địa bàn tỉnh vẫn đối mặt với không ít khó khăn. Sản xuất còn phân tán, quy mô nhỏ lẻ; vùng nguyên liệu chưa tập trung; tỷ lệ chế biến sâu còn thấp,… trong khi yêu cầu của các thị trường xuất khẩu ngày càng khắt khe về truy xuất nguồn gốc, chứng nhận hữu cơ, quản lý rừng bền vững và phát thải carbon.
Theo ông Phùng Nhuệ Giang, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Lâm sản ngoài gỗ, Việt Nam hiện có khoảng 1,53 triệu ha tre, trúc với 256 loài; trong đó khoảng 10 loài có giá trị kinh tế cao. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm từ tre đạt khoảng 800 triệu USD.
Không chỉ mang lại giá trị kinh tế, tre còn có khả năng hấp thụ và lưu giữ carbon cao, góp phần bảo vệ nguồn nước, bảo tồn đa dạng sinh học và mở ra cơ hội tham gia thị trường tín chỉ carbon trong tương lai. Tuy nhiên, để phát triển công nghiệp chế biến quy mô lớn, điều kiện tiên quyết là phải hình thành vùng nguyên liệu tập trung, ổn định và có sự liên kết chặt chẽ giữa người dân, hợp tác xã với doanh nghiệp.
Ở góc độ quản lý nhà nước, ông Ngô Quang Nam, Phó Trưởng phòng Sử dụng và Phát triển rừng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên cho biết, đầu ra vẫn là nút thắt lớn đối với nhiều loại lâm sản ngoài gỗ. Riêng cây hồi, năm 2025 toàn tỉnh thu hoạch hơn 130 tấn, giá bán đạt 28-30 nghìn đồng/kg, nhưng năm nay giảm xuống còn khoảng 20 nghìn đồng/kg và việc tiêu thụ cũng gặp nhiều khó khăn. Điều này cho thấy nếu không hình thành được chuỗi liên kết sản xuất - chế biến-tiêu thụ ổn định thì giá trị của lâm sản ngoài gỗ sẽ khó phát huy hết tiềm năng.
Theo ông Lê Cẩm Long, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên, việc phát triển lâm sản ngoài gỗ là một trong những định hướng quan trọng nhằm nâng cao giá trị kinh tế từ rừng, đồng thời góp phần bảo vệ tài nguyên và phát triển sinh kế bền vững cho người dân miền núi.
Trong Đề án phát triển lâm nghiệp toàn diện giai đoạn 2026-2030 đang được xây dựng, tỉnh xác định lâm sản ngoài gỗ là một trong những nhóm sản phẩm chủ lực, tập trung phát triển theo hướng hình thành vùng nguyên liệu ổn định, ứng dụng khoa học công nghệ, tăng cường chế biến sâu và liên kết chuỗi giá trị với doanh nghiệp.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, tỉnh sẽ ưu tiên quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung đối với các loại cây có lợi thế như tre, trúc, hồi, quế và dược liệu; hỗ trợ người dân áp dụng quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn, xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc, thúc đẩy các chứng nhận hữu cơ và quản lý rừng bền vững. Đồng thời, tỉnh tiếp tục thu hút doanh nghiệp đầu tư vào chế biến sâu, phát triển các sản phẩm OCOP (Chương trình Mỗi xã một sản phẩm), kinh tế tuần hoàn và đẩy mạnh xúc tiến thương mại nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ.
Cùng với việc khai thác hiệu quả các cơ hội từ thị trường tín chỉ carbon và xu hướng tiêu dùng xanh trên thế giới, Thái Nguyên kỳ vọng sẽ từng bước chuyển hóa lợi thế về tài nguyên rừng thành động lực tăng trưởng mới.
Khi vùng nguyên liệu được tổ chức bài bản, chuỗi liên kết sản xuất được hình thành và năng lực chế biến được nâng cao, lâm sản ngoài gỗ sẽ không chỉ góp phần nâng cao thu nhập cho người dân vùng cao mà còn trở thành trụ cột quan trọng trong phát triển kinh tế lâm nghiệp của tỉnh giai đoạn 2026-2030./.
Xuất siêu nông lâm thủy sản trên 7 tỷ USD trong hơn 5 tháng đầu của năm 2026
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết trong 5 tháng đầu của năm 2026, Việt Nam xuất siêu nông lâm thủy sản trên 7 tỷ USD;