Trong cuộc cạnh tranh công nghệ toàn cầu, công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, công nghệ lượng tử, vật liệu mới… đều được nghiên cứu, thử nghiệm và phát triển tại những phòng thí nghiệm hiện đại.
Các quốc gia có nền khoa học công nghệ phát triển đều có hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm hiện đại, tập trung đội ngũ nhân lực trình độ cao. Do đó, phòng thí nghiệm trọng điểm chính là mắt xích then chốt của công nghệ chiến lược.
Tại Việt Nam, sau hơn hai thập kỷ đầu tư xây dựng hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, nhiều kết quả quan trọng đã được tạo lập. Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước đặt mục tiêu làm chủ các công nghệ chiến lược theo tinh thần Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng một hệ thống hạ tầng nghiên cứu hiện đại, đồng bộ và đủ sức dẫn dắt các ngành công nghiệp tương lai.
Điểm nghẽn trong phát triển hạ tầng nghiên cứu chiến lược quốc gia
Tại buổi làm việc của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày 25/5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhận định Việt Nam đang thiếu các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, thiếu phòng thí nghiệm hiện đại, thiếu cơ sở dữ liệu lớn, thiếu hạ tầng tính toán dùng chung và thiếu cơ chế đầu tư dài hạn cho các nhóm nghiên cứu mạnh. Nhiều thiết bị, phòng thí nghiệm còn đầu tư phân tán, thiếu kết nối, hiệu quả khai thác chưa cao.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng đã nêu rõ giải pháp thời gian tới: “Xây dựng hạ tầng dữ liệu và hạ tầng tri thức quốc gia. Đầu tư phòng thí nghiệm trọng điểm, thiết bị dùng chung, hạ tầng tính toán hiệu năng cao, dữ liệu khoa học, dữ liệu xã hội, thư viện số, kho dữ liệu văn hóa-ngôn ngữ-di sản số.”
Hiện cả nước có 16 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia được đầu tư trong các giai đoạn trước, tập trung vào 7 lĩnh vực ưu tiên gồm công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu, cơ khí-tự động hóa, hóa dầu, năng lượng và một số lĩnh vực khoa học, công nghệ khác. Tổng kinh phí xây dựng 16 phòng thí nghiệm là 967 tỷ đồng, bình quân chưa đến 60 tỷ đồng mỗi phòng thí nghiệm, thấp hơn đáng kể so với chuẩn quốc tế.
Giáo sư, Tiến sỹ Trần Thị Thanh Tú, Trưởng ban Khoa học và Đổi mới sáng tạo tại Đại học Quốc gia Hà Nội, đánh giá dù nguồn lực còn hạn chế, hệ thống 16 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia đã tạo ra dấu ấn đáng kể trong khoa học công nghệ Việt Nam. Các phòng thí nghiệm trọng điểm hiện chiếm khoảng 72% nguồn nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao, làm chủ 60% công nghệ lõi, đóng góp khoảng 50% số công bố quốc tế của cả nước, trong đó có nhiều công trình thuộc nhóm 1% và 5% bài báo được trích dẫn nhiều nhất thế giới trên các tạp chí hàng đầu như Nature và Science.
Tuy nhiên, phía sau những thành tựu này, nhiều điểm nghẽn đã nảy sinh trong quá trình vận hành, khai thác các phòng thí nghiệm trọng điểm này.
Phần lớn cơ sở vật chất và trang thiết bị của các phòng thí nghiệm này đã lạc hậu so với trình độ quốc tế, không được nâng cấp. Nhiều thiết bị mua sắm từ giai đoạn 2000-2010 đến nay đã lạc hậu, trong khi chu kỳ đổi mới công nghệ rất ngắn, chỉ 3-7 năm.
Theo báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ, trong nhiều năm, nguồn lực Nhà nước chủ yếu dành cho mua sắm thiết bị, trong khi kinh phí hoạt động thấp, chỉ 1,137 tỷ đồng/phòng thí nghiệm mỗi năm. Khoản kinh phí này ở mức tối thiểu, đủ cho điện, nước, vật tư tiêu hao, nhưng không đủ để duy trì đội ngũ nhân lực chất lượng cao hoặc các nghiên cứu dài hạn.
Đa số phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia không có tư cách pháp nhân đầy đủ, không tự chủ về tài chính, nhân sự và chiến lược phát triển. Nhiều nơi hoạt động như đơn vị phụ thuộc của viện nghiên cứu, trường đại học.
Đề cập đến một số điểm nghẽn kéo dài, trong đó có vấn đề nhân sự, Giáo sư, Tiến sỹ Trần Thị Thanh Tú cho biết phần lớn đội ngũ nghiên cứu vẫn phải kiêm nhiệm.
"Ở các trường đại học, giảng viên vừa đảm nhiệm nhiệm vụ giảng dạy, vừa thực hiện nghiên cứu khoa học nên nguồn lực bị phân tán. Nhiều phòng thí nghiệm thiếu đội ngũ kỹ thuật viên chuyên trách để vận hành các thiết bị hiện đại. Có những nơi được đầu tư thiết bị tốt nhưng không đủ nhân lực để khai thác tối đa công suất. Nếu không giải quyết được vấn đề con người thì rất khó để phát huy hiệu quả của hệ thống hạ tầng nghiên cứu đã được đầu tư," Giáo sư, Tiến sỹ Trần Thị Thanh Tú nhận định.
Tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, nơi đang vận hành hai phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia được đầu tư từ năm 2003, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lâm Quang Vinh, Trưởng ban Khoa học công nghệ của Nhà trường cho biết, nhiều thiết bị của hai phòng thí nghiệm này đã hết khấu hao và không còn đáp ứng yêu cầu nghiên cứu hiện đại.
"Các phòng thí nghiệm trọng điểm hiện nay đang gặp khó khăn trong việc duy trì và nâng cấp hạ tầng. Nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học và công nghệ được cấp hàng năm chưa đáp ứng nhu cầu thực tế vận hành. Bên cạnh đó, các quy định về đấu thầu, mua sắm thiết bị, vật tư và hóa chất chuyên dụng còn phức tạp, kéo dài thời gian thực hiện, ảnh hưởng trực tiếp tới tiến độ nghiên cứu. Nếu muốn làm chủ công nghệ lõi, cần chuyển từ cơ chế giao đề tài ngắn hạn sang cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ trực tiếp theo chu kỳ từ 3 đến 5 năm cho các tổ chức nghiên cứu quy mô lớn và các nhóm nghiên cứu mạnh, tạo điều kiện ổn định nguồn lực để làm chủ công nghệ và duy trì hạ tầng nghiên cứu bền vững," Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lâm Quang Vinh đề xuất.
Tái cấu trúc để phục vụ các công nghệ chiến lược
Theo Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định, hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm là hạ tầng cốt lõi đối với năng lực nghiên cứu, phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo của quốc gia, đồng thời có tác động rất lớn tới việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao.
Để giải quyết những điểm nghẽn kéo dài nhiều năm liên quan đến hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm, Bộ Khoa học và Công nghệ đang xây dựng Đề án phát triển hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia phục vụ các công nghệ chiến lược.
Theo Đề án, Việt Nam sẽ chuyển từ tư duy "đầu tư phòng thí nghiệm" sang "xây dựng hạ tầng nghiên cứu quốc gia." Trong mô hình mới, các phòng thí nghiệm trọng điểm sẽ được đặt trong một hệ sinh thái gồm trung tâm nghiên cứu, nền tảng dữ liệu, hạ tầng tính toán hiệu năng cao, hệ thống thiết bị dùng chung và mạng lưới chuyên gia.
Hệ thống hạ tầng nghiên cứu được đề xuất tổ chức theo ba tầng. Trong đó, tầng cao nhất là các trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm quốc gia chiến lược, có nhiệm vụ thực hiện các chương trình nghiên cứu quy mô lớn, phát triển công nghệ lõi và triển khai các nhiệm vụ công nghệ chiến lược của quốc gia. Dự kiến sẽ hình thành khoảng 10-15 trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm thuộc nhóm này.
Nguồn lực đầu tư sẽ tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên như trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn, công nghiệp bán dẫn, công nghệ sinh học và y sinh, vật liệu tiên tiến, năng lượng mới và năng lượng tái tạo. Khoảng 60-70% nguồn lực đầu tư trong giai đoạn đầu được đề xuất dành cho các lĩnh vực này.
Bên cạnh đó, hệ thống phòng thí nghiệm quốc gia sẽ được vận hành theo cơ chế mở, cho phép các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và địa phương tiếp cận, khai thác hạ tầng nghiên cứu. Cơ sở dữ liệu khoa học quốc gia và các nền tảng chia sẻ dữ liệu cũng sẽ được xây dựng để phục vụ nghiên cứu và phát triển các công nghệ số, trí tuệ nhân tạo.
Theo đề xuất của Bộ Khoa học và Công nghệ, mô hình quản trị mới sẽ theo hướng Nhà nước đầu tư hạ tầng, giao nhiệm vụ và đánh giá kết quả; các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp có năng lực sẽ tham gia vận hành. Cơ chế đầu tư cũng chuyển từ các dự án đơn lẻ sang các chương trình quốc gia dài hạn, gắn với kết quả đầu ra và khả năng làm chủ công nghệ.
Thứ trưởng Lê Xuân Định cho rằng hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia cần được tiếp cận theo hướng chương trình phát triển hạ tầng trọn gói, bao gồm hạ tầng, vận hành và nhân lực, thay vì chỉ là dự án mua sắm thiết bị một lần; phải chuyển từ quản trị chi phí sang quản trị kết quả, quản lý bằng các mốc tiến độ và KPI rõ ràng; nếu không hiệu quả sẽ dừng đầu tư và điều chuyển tài sản.
Với việc Việt Nam đặt mục tiêu làm chủ các công nghệ chiến lược, phòng thí nghiệm trọng điểm cần trở thành trung tâm hội tụ dữ liệu, tri thức, nhân lực và đổi mới sáng tạo. Việc tái cấu trúc toàn diện hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia là bước đi quan trọng để hình thành năng lực nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ lõi của đất nước trong giai đoạn phát triển mới./.
Tăng trưởng mới từ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Với những giải pháp đồng bộ, sáng tạo trong cụ thể hóa Nghị quyết số 57, Thái Nguyên đang từng bước đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực then chốt.