Ngày 10/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Nhiều đại biểu đồng tình với chính sách ưu tiên đưa người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao ra nước ngoài làm việc song cũng bày tỏ băn khoăn trước tình trạng “chảy máu chất xám,” thiếu nhân lực chất lượng cao trong nước đặc biệt là ở các ngành công nghệ số, bán dẫn…
Cơ chế 'Tuần hoàn nguồn nhân lực'
Phát biểu ý kiến tại hội trường, đại biểu Ngô Trung Thành, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk chỉ ra thực tế hiện nay Việt Nam đang thiếu lao động chất lượng cao, nhất là trong các lĩnh vực như AI, bán dẫn, công nghệ số, công nghệ cao, năng lượng, y tế, công nghiệp chế tạo. Đây cũng là những lĩnh vực Việt Nam đặt nhiều kỳ vọng để tạo động lực tăng trưởng mới.
Trong bối cảnh đó, nếu ưu tiên đưa nhóm lao động này ra nước ngoài một cách chung chung thì có thể dẫn đến thiếu nhân lực ở trong nước.
Do đó, đại biểu đề nghị trong Luật sửa đổi lần này cần quy định rõ: Ưu tiên khi nguồn nhân lực trong nước đã đáp ứng hoặc vượt nhu cầu, hoặc là khi Nhà nước đã xác định rõ việc đưa người đi là để đào tạo, tích lũy kinh nghiệm trong một lĩnh vực chiến lược mà đất nước đang rất cần.
Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị Chính phủ có trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện đề án phát triển nguồn nhân lực đối với từng ngành, lĩnh vực mũi nhọn, trọng tâm; trong đó có việc đưa người lao động đi đào tạo, nghiên cứu, thực tập hoặc làm việc có thời hạn ở nước ngoài, sau đó trở về làm việc ở trong nước.
“Cụ thể, Nhà nước xác định trong vòng 5 năm tới cần bao nhiêu kỹ sư trong ngành bán dẫn, cần đào tạo bao nhiêu chuyên gia, và quan trọng nhất, khi trở về sẽ làm ở đâu, làm việc gì. AI, công nghệ lõi, công nghệ sinh học, năng lượng mới cũng cần có các cách tiếp cận như vậy,” đại biểu nhấn mạnh.
Cùng quan điểm đó, đại biểu Nguyễn Vũ Trung, Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị cần “đi thêm một bước” từ chính sách đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài sang chính sách “Tuần hoàn nguồn nhân lực” sau khi lao động hết hợp đồng, trở về nước.
“Người lao động trở về mang theo ngoại ngữ, kỹ năng nghề, công nghệ, tác phong công nghiệp và kinh nghiệm quản trị. Đây là một nguồn vốn con người rất lớn của quốc gia. Do đó, tôi đề nghị bổ sung chính sách công nhận, phát huy kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm người lao động tích lũy ở nước ngoài; xây dựng hồ sơ kỹ năng số, hỗ trợ công nhận chuyển đổi kỹ năng và kết nối với thị trường lao động trong nước sau khi người lao động trở về,” đại biểu nêu rõ.
Các đại biểu tán thành quy định ưu tiên đưa người lao động đã qua đào tạo và có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao đi làm việc ở nước ngoài; xem đây là cơ hội nâng cao chất lượng lao động Việt Nam trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, các đại biểu cũng đặt ra vấn đề doanh nghiệp trong nước sẽ phải cạnh tranh gay gắt hơn để tuyển dụng và giữ chân lao động.
Do đó, việc khuyến khích người lao động tham gia thị trường quốc tế cần gắn với cơ chế thu hút, sử dụng người lao động sau khi trở về, để những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và tác phong lao động tích lũy được ở nước ngoài tiếp tục đóng góp cho sự phát triển đất nước.
“Trong nước chúng ta trả lương 50 triệu đồng, nhưng nước ngoài họ trả 200 triệu đồng thì người lao động sẽ chọn ở lại,” đại biểu Phạm Văn Hòa, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp nói, đề nghị phải có những quy định rạch ròi, chặt chẽ và cơ chế minh bạch để đảm bảo người lao động thực hiện đúng cam kết trở về sau khi hết hạn hợp đồng.
Thiết lập cơ chế bảo vệ người lao động
Đóng góp ý kiến về cơ chế cơ chế bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, đại biểu Đào Chí Nghĩa, Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Cần Thơ đề nghị bổ sung, xác lập quy trình phối hợp giữa doanh nghiệp dịch vụ, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài khi phát sinh vụ việc ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.
“Cần quy định thời hạn cụ thể để doanh nghiệp phải tiếp nhận, xử lý và báo cáo vụ việc, không chỉ nên quy định chung chung là thông tin hoặc báo cáo. Đối với những vụ việc nghiêm trọng, phải xác định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc tạm ứng hoặc bố trí một khoản chi phí khẩn cấp để hỗ trợ, bảo vệ và đưa người lao động về nước khi cần thiết,” đại biểu đề nghị.
Đóng góp ý kiến về vấn đề bảo vệ lao động nữ và các nhóm lao động dễ bị tổn thương, đại biểu Thạch Phước Bình, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long đề nghị cụ thể hóa cơ chế bảo vệ người lao động, nhất là với lao động nữ làm giúp việc gia đình, chăm sóc và các nghề có tính biệt lập, bao gồm: Các nội dung về nhận diện quấy rối, cưỡng bức lao động, mua bán người; phương thức báo tin an toàn và địa chỉ hỗ trợ khẩn cấp.
Cho ý kiến về quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp dịch vụ trong hỗ trợ pháp lý cho người lao động, đại biểu Trần Thị Diệu Thúy, Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh phân tích, tại điểm e khoản 2 Điều 26, quy định trách nhiệm "Tư vấn pháp luật và hỗ trợ người lao động tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý trong trường hợp người lao động bị lạm dụng, bạo lực hoặc phân biệt đối xử trong thời gian làm việc ở nước ngoài" là chưa đầy đủ.
Theo đại biểu, trong thời gian làm việc ở nước ngoài, người lao động có thể còn cần hỗ trợ pháp lý trong nhiều trường hợp khác như khi bị nợ hoặc không được trả lương, bị giữ giấy tờ, bị đơn phương chấm dứt hợp đồng, xảy ra tai nạn lao động hoặc phát sinh tranh chấp về quyền lợi theo hợp đồng. Đây là những trường hợp có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của người lao động nhưng không thuộc trường hợp "lạm dụng, bạo lực hoặc phân biệt đối xử."
Do đó, đại biểu Trần Thị Diệu Thúy đề nghị sửa quy định này theo hướng: Doanh nghiệp có trách nhiệm tư vấn pháp luật và hỗ trợ người lao động tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý khi quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động bị xâm phạm hoặc khi phát sinh tranh chấp cần hỗ trợ pháp lý trong thời gian làm việc ở nước ngoài./.
Cho ý kiến về dự án Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Việc sửa đổi luật phải tạo bước chuyển mới trong phát triển thị trường lao động ngoài nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho đất nước.