Hà Nội gỡ nút thắt giao thông tĩnh: Từ quy hoạch đến hiện thực

Khoảng cách lớn giữa quy hoạch và thực tiễn đang khiến nhiều tuyến phố, khu dân cư và khu vực trung tâm thành phố Hà Nội rơi vào tình trạng quá tải chỗ đỗ xe.

Điểm đỗ xe thông minh trên phố Lê Văn Lương (Hà Nội). (Ảnh: Quốc Lũy/TTXVN)
Điểm đỗ xe thông minh trên phố Lê Văn Lương (Hà Nội). (Ảnh: Quốc Lũy/TTXVN)

Số lượng ôtô cá nhân tăng nhanh trong những năm gần đây đang tạo áp lực ngày càng lớn lên hệ thống hạ tầng giao thông của Hà Nội. Bên cạnh tình trạng ùn tắc, một vấn đề khác đang trở thành “điểm nghẽn” của quá trình phát triển đô thị là sự thiếu hụt nghiêm trọng các bãi đỗ xe công cộng.

Dù thành phố đã ban hành quy hoạch phát triển hệ thống giao thông tĩnh từ nhiều năm trước với hàng nghìn điểm đỗ xe được xác định trên bản đồ, song số lượng công trình thực tế được đầu tư và đưa vào khai thác vẫn rất hạn chế.

Khoảng cách lớn giữa quy hoạch và thực tiễn đang khiến nhiều tuyến phố, khu dân cư và khu vực trung tâm rơi vào tình trạng quá tải chỗ đỗ xe, ảnh hưởng đến giao thông, mỹ quan đô thị và chất lượng sống của người dân.

Áp lực thiếu hụt giao thông tĩnh

Những ngày cuối tuần, anh Nguyễn Văn Hùng, cư dân một khu chung cư tại phường Cầu Giấy, lại phải dành hàng chục phút chạy xe quanh khu vực để tìm chỗ gửi ôtô. Bãi đỗ xe trong tòa nhà đã kín từ nhiều tháng nay, còn các điểm trông giữ xe lân cận thường xuyên trong tình trạng hết chỗ.

“Tôi mua xe để phục vụ công việc và gia đình nhưng nhiều khi việc tìm chỗ đỗ còn mệt hơn lái xe ngoài đường. Có hôm phải gửi xe cách nhà gần một km rồi đi bộ về,” anh Hùng chia sẻ.Không riêng gia đình anh Hùng, đây là thực trạng đang diễn ra tại nhiều phường nội thành Hà Nội. Khi mức sống của người dân được nâng lên, ôtô dần trở thành phương tiện phổ biến hơn. Tuy nhiên, tốc độ phát triển của hệ thống giao thông tĩnh lại không theo kịp nhu cầu thực tế.

Theo thống kê của Sở Xây dựng Hà Nội, hiện thành phố có khoảng 8 triệu phương tiện giao thông đường bộ, trong đó gần 1,5 triệu ôtô. Số lượng ôtô tăng bình quân khoảng 10% mỗi năm. Trong khi đó, diện tích đất dành cho giao thông tĩnh mới chỉ đáp ứng khoảng 8-10% nhu cầu đỗ xe thực tế.

Theo quy hoạch bến xe, bãi đỗ xe, trung tâm tiếp vận và trạm dừng nghỉ đến năm 2030, Hà Nội cần khoảng 1.700 bãi đỗ xe công cộng với tổng diện tích gần 1.800 ha đất giao thông tĩnh. Tuy nhiên đến nay, toàn thành phố mới chỉ có khoảng hơn 70 bãi đỗ xe được đầu tư và đưa vào hoạt động theo quy hoạch, tương đương tỷ lệ rất thấp so với mục tiêu đề ra.

Sự thiếu hụt bãi đỗ xe khiến nhiều phương tiện phải tận dụng các bãi đất trống, đất xen kẹt hoặc đỗ trên lòng đường, vỉa hè. Tại các phường trung tâm như Hoàn Kiếm, Ba Đình, Đống Đa hay Hai Bà Trưng, nhiều tuyến phố vốn đã hẹp lại tiếp tục bị thu hẹp mặt cắt giao thông bởi các điểm trông giữ xe.

Chị Trần Thu Hà, cư dân phường Kim Liên cho biết, gia đình chị đang phải thuê chỗ gửi ôtô với mức phí hơn 2 triệu đồng mỗi tháng tại một bãi xe cách nhà gần 700m.

ttxvn-ha-noi-go-nut-that-giao-thong-tinh-tu-quy-hoach-den-hien-thuc-0706-2.jpg
Điểm trông giữ xe trên vỉa hè phố Lê Văn Lương (Hà Nội). (Ảnh: Quốc Lũy/TTXVN)

“Không phải ai cũng có điều kiện gửi xe trong tầng hầm chung cư. Những người sống tại các khu tập thể cũ hay khu dân cư lâu năm gần như không có lựa chọn nào khác ngoài việc gửi xe ở các bãi tư nhân với giá cao,” chị Hà cho biết.

Các chuyên gia đô thị đánh giá, thiếu bãi đỗ xe không chỉ là khó khăn của người sở hữu ôtô mà còn tác động trực tiếp đến trật tự đô thị, an toàn giao thông, năng lực khai thác hạ tầng và hình ảnh của Thủ đô.

Điểm nghẽn cơ chế và nguồn lực

Nhận thức được tầm quan trọng của giao thông tĩnh, Hà Nội đã dành nhiều quỹ đất trong quy hoạch để phát triển hệ thống bãi đỗ xe công cộng, bãi đỗ xe ngầm và bãi đỗ xe cao tầng.Tuy nhiên, thực tế triển khai cho thấy nhiều dự án được phê duyệt từ nhiều năm trước vẫn chưa thể khởi công hoặc chậm tiến độ kéo dài.

Điển hình là 3 dự án bãi đỗ xe ngầm đã được UBND thành phố Hà Nội phê duyệt chủ trương cho phép triển khai thực hiện bao gồm: Bãi đỗ xe ngầm tại dải đất phía Nam đường Đại Cồ Việt (Quyết định chủ trương đầu tư số 6211/QĐ-UBND ngày 6/9/2017), bãi đỗ xe ngầm Cung thể thao Quần Ngựa (Quyết định chủ trương đầu tư số 2961/QĐ-UBND ngày 15/6/2018) và bãi đỗ xe ngầm công viên Thủ Lệ (Quyết định chủ trương đầu tư số 713/QĐ-UBND ngày 12/2/2019).

Theo các chuyên gia, nguyên nhân lớn nhất nằm ở sự thiếu đồng bộ giữa quy hoạch và cơ chế thực hiện. Nhiều vị trí quy hoạch bãi đỗ xe nằm xen cài trong khu dân cư hiện hữu hoặc liên quan đến đất công, khiến công tác giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn.

Tiến sỹ Khương Kim Tạo, nguyên Phó Chánh Văn phòng Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia cho rằng, nghịch lý hiện nay là nhu cầu đỗ xe ngày càng tăng nhưng việc đầu tư phát triển giao thông tĩnh lại chưa đủ hấp dẫn đối với doanh nghiệp.

Ông Khương Kim Tạo phân tích, các dự án bãi đỗ xe ngầm hoặc bãi đỗ xe cao tầng đòi hỏi chi phí đầu tư rất lớn, trong khi thời gian thu hồi vốn kéo dài hàng chục năm. Bên cạnh đó, khung giá dịch vụ trông giữ xe còn nhiều hạn chế, khiến hiệu quả đầu tư chưa tương xứng với nguồn lực bỏ ra.

“Quỹ đất khu vực trung tâm ngày càng khan hiếm. Nếu không có cơ chế đặc thù về đất đai, tài chính và khai thác thương mại thì rất khó thu hút nguồn lực xã hội tham gia đầu tư các công trình giao thông tĩnh,” ông Tạo nhận định.

Ở góc độ quy hoạch, Tiến sỹ Đào Ngọc Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam thông tin, nhu cầu đỗ xe tại một số khu đô thị mới chưa được dự báo đầy đủ. Nhiều dự án nhà ở có mật độ dân cư lớn nhưng số lượng chỗ đỗ xe được bố trí thấp hơn nhiều so với nhu cầu thực tế. Điều này dẫn tới tình trạng quá tải ngay sau khi đưa vào sử dụng.

"Quy hoạch giao thông tĩnh phải đi trước một bước và gắn chặt với quy hoạch dân cư, phát triển đô thị cũng như hệ thống giao thông công cộng. Nếu chỉ xử lý theo nhu cầu phát sinh thì áp lực sẽ ngày càng lớn,” ông Nghiêm nhấn mạnh.Đại diện một doanh nghiệp đang khai thác điểm đỗ xe tại Hà Nội chia sẻ, khó khăn lớn nhất hiện nay là tiếp cận quỹ đất và thủ tục đầu tư. Nhiều khu đất đã được quy hoạch làm bãi đỗ xe nhưng vẫn chậm giải phóng mặt bằng hoặc chưa hoàn thiện các thủ tục pháp lý cần thiết.

Trong khi đó, các mô hình bãi đỗ xe thông minh, bãi đỗ xe cao tầng tự động hay tích hợp trạm sạc xe điện đều đòi hỏi nguồn vốn lớn, khiến doanh nghiệp còn cân nhắc khi tham gia đầu tư.

Không chỉ Hà Nội, nhiều đô thị lớn trên thế giới cũng từng đối mặt với bài toán tương tự. Tuy nhiên, thay vì chỉ mở rộng quỹ đất, các thành phố đã tập trung hoàn thiện cơ chế đầu tư, ứng dụng công nghệ và nâng cao hiệu quả khai thác hệ thống hiện có.

Cần giải pháp đồng bộ

Theo các chuyên gia, Hà Nội khó có thể giải quyết triệt để tình trạng thiếu bãi đỗ xe nếu chỉ dựa vào việc xây dựng thêm các điểm trông giữ phương tiện đơn lẻ.Điều cần thiết là phải có một chiến lược tổng thể về giao thông đô thị, trong đó giao thông tĩnh được xem là một cấu phần quan trọng của hệ thống hạ tầng chứ không phải hạng mục phụ trợ.

ttxvn-ha-noi-go-nut-that-giao-thong-tinh-tu-quy-hoach-den-hien-thuc-0706-3.jpg
Bãi đỗ xe trên phố Nguyễn Công Hoan được xây dựng theo công nghệ Hàn Quốc, gồm 17 block cao 4 tầng, có hệ thống giám sát an ninh và các biện pháp phòng cháy chữa cháy. (Ảnh: Quốc Lũy/TTXVN)

Một trong những giải pháp được nhiều chuyên gia đề xuất là đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư thông qua mô hình đối tác công-tư (PPP). Theo đó, Nhà nước tập trung giải quyết các vấn đề về quy hoạch và quỹ đất, trong khi doanh nghiệp tham gia đầu tư, vận hành và khai thác công trình. Đồng thời, thành phố cần nghiên cứu các cơ chế ưu đãi về thuế, tiền thuê đất, tín dụng và thời gian khai thác để tăng sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư.

Kinh nghiệm từ Bangkok (Thái Lan) cho thấy việc ứng dụng công nghệ số có thể giúp nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ đất giao thông tĩnh. Hệ thống quản lý bãi đỗ xe thông minh cho phép người dân tìm kiếm, đặt chỗ và thanh toán trực tuyến, giảm đáng kể thời gian tìm chỗ đỗ xe và hạn chế ùn tắc cục bộ.

Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng nhấn mạnh, việc đẩy mạnh chuyển đổi số, sử dụng dữ liệu và nền tảng giám sát thông minh để quản lý trật tự đô thị. Ứng dụng tìm kiếm điểm đỗ, thanh toán không dùng tiền mặt sẽ giúp minh bạch hóa và giảm thời gian xe chạy lòng vòng tìm chỗ.

Các chuyên gia cho rằng Hà Nội hoàn toàn có thể nghiên cứu áp dụng mô hình tương tự thông qua việc kết nối các bãi đỗ công cộng, bãi đỗ tư nhân và trung tâm thương mại trên cùng một nền tảng quản lý số. Bên cạnh đó, việc phát triển các bãi đỗ xe ngầm tại khu vực trung tâm và các bãi đỗ xe cao tầng tại những khu dân cư đông đúc cần được đẩy nhanh hơn trong thời gian tới.

Ngoài ra, nhiều ý kiến cũng cho thấy, thành phố nên tận dụng các khu đất công, hoặc những khoảng đất trống phù hợp để tổ chức các bãi đỗ xe tạm thời trong ngắn hạn, qua đó giảm áp lực trước mắt cho người dân.

Về lâu dài, Hà Nội cần gắn phát triển giao thông tĩnh với mạng lưới vận tải hành khách công cộng. Các mô hình “Park and Ride” (gửi xe và tiếp tục hành trình bằng phương tiện công cộng) tại các ga đường sắt đô thị được đánh giá là hướng đi phù hợp đối với một đô thị lớn. Khi mạng lưới metro và xe buýt công cộng ngày càng hoàn thiện, nhu cầu sử dụng ôtô cá nhân trong khu vực trung tâm sẽ giảm dần, qua đó giảm áp lực lên hệ thống bãi đỗ xe.

Trong bối cảnh Hà Nội đang hướng tới mục tiêu trở thành đô thị xanh, thông minh và hiện đại, giao thông tĩnh cần được nhìn nhận như một hạ tầng thiết yếu, có vai trò tương đương với đường giao thông, cầu cống hay vận tải công cộng. Nếu tiếp tục chậm trễ, hàng nghìn điểm đỗ xe vẫn sẽ chỉ nằm trên bản đồ quy hoạch, còn người dân tiếp tục phải loay hoay tìm chỗ gửi xe mỗi ngày.

Ngược lại, nếu mạnh dạn tháo gỡ các rào cản về cơ chế, huy động hiệu quả nguồn lực xã hội và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, Hà Nội hoàn toàn có cơ sở để giải quyết căn cơ bài toán giao thông tĩnh, góp phần xây dựng một đô thị văn minh, hiện đại và đáng sống trong tương lai./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục

Dự án Trường Phổ thông liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở Bắc Lý, xã Bắc Lý đã khởi công xây dựng. (Ảnh: Bích Huệ/TTXVN)

Nghệ An vẫn còn gần 90 dự án vướng mắc kéo dài

Quá trình xử lý được thực hiện theo phương châm rõ người, rõ việc, rõ thời hạn, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm và rõ thẩm quyền; kiên quyết không hợp thức hóa sai phạm, không để phát sinh sai phạm mới.