Việc Hoa Kỳ áp thuế bổ sung 12,5% theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 đang tạo thêm sức ép đối với nhiều ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Không chỉ làm gia tăng chi phí và suy giảm năng lực cạnh tranh, chính sách này còn đặt ra yêu cầu cấp bách về minh bạch chuỗi cung ứng, truy xuất nguồn gốc nguyên liệu và nâng cao tỷ lệ nội địa hóa để thích ứng với các rào cản thương mại ngày càng khắt khe.
Gia tăng chi phí xuất khẩu
Ông Phạm Văn Việt, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Việt Thắng Jean, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Thời trang Thành phố Hồ Chí Minh, nhận định việc Hoa Kỳ áp thuế bổ sung 12,5% theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại Hoa Kỳ sẽ tạo thêm áp lực đáng kể đối với doanh nghiệp dệt may Việt Nam, nhất là những doanh nghiệp còn phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu và chưa nâng cao được tỷ lệ nội địa hóa.
Theo ông Phạm Văn Việt, chính sách thuế mới của Hoa Kỳ nhằm kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu, đặc biệt là bông có xuất xứ từ Tân Cương (Trung Quốc) - khu vực mà Hoa Kỳ cho rằng có liên quan đến lao động cưỡng bức. Đồng thời, Hoa Kỳ cũng tăng cường kiểm soát hành vi chuyển tải bất hợp pháp nhằm ngăn chặn tình trạng hàng hóa sản xuất tại Trung Quốc nhưng gắn nhãn xuất xứ Việt Nam để xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất minh bạch, có đầy đủ hồ sơ chứng minh nguồn gốc nguyên liệu và quy trình sản xuất tại Việt Nam, nguy cơ bị áp thuế do chuyển tải là không lớn. Tuy nhiên, việc áp thêm thuế đối với nguyên liệu vẫn làm gia tăng đáng kể chi phí xuất khẩu.
"Đối với ngành dệt may, thuế bổ sung mới khiến tổng mức thuế phải chịu tăng lên rất cao. Cụ thể một sản phẩm dệt may chịu mức thuế nhập khẩu thông thường vào Hoa Kỳ khoảng 15%, 10% thuế đối ứng và 12,5% thuế bổ sung theo Mục 301. Riêng với mặt hàng sợi tổng hợp, mức thuế vào thị trường Hoa Kỳ hiện lên tới khoảng 44,5%; đối với sản phẩm từ sợi cotton cũng ở mức trên 40%, khiến doanh nghiệp không thể cạnh tranh về giá. Đây là gánh nặng lớn, đặc biệt với những doanh nghiệp chưa chủ động được nguồn nguyên liệu trong nước," ông Phạm Văn Việt cho biết.
Hoa Kỳ hiện vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của ngành dệt may Việt Nam, dù tỷ trọng đã giảm so với trước đây. Tuy nhiên, khi mức thuế tăng cao, năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam sẽ suy giảm đáng kể so với các đối thủ như Bangladesh, Indonesia, Malaysia và đặc biệt là Ấn Độ, những quốc gia có lợi thế về nguồn nguyên liệu hoặc được hưởng mức thuế thấp hơn.
Từ đầu năm 2026, ngành dệt may dù gặp khó khăn nhưng vẫn duy trì được tăng trưởng dương. Tuy nhiên, với việc áp thuế chồng thuế từ Hoa Kỳ, ông Phạm Văn Việt dự báo, xuất khẩu dệt may nửa cuối năm khó có tăng trưởng. Để giảm thiểu tác động tiêu cực từ chính sách thuế mới, doanh nghiệp buộc chủ động đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, mở rộng sang ASEAN và các thị trường ngoài Hoa Kỳ.
Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Thời trang Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng trước mắt Việt Nam cần tăng tỷ lệ nhập khẩu bông từ Hoa Kỳ để giảm nguy cơ bị áp thuế liên quan đến xuất xứ nguyên liệu. Mặc dù chi phí nhập bông từ Hoa Kỳ có thể cao hơn khoảng 4-7% so với các nhà cung ứng truyền thống, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với chi phí phát sinh do thuế bổ sung.
"Tuy nhiên việc nhập bông từ Hoa Kỳ phải song hành với đẩy mạnh phát triển công nghiệp dệt trong nước mới có thể giải quyết được bài toán nâng cao tỷ lệ nội địa hóa. Hiện Việt Nam chủ yếu nhập khẩu vải thành phẩm để phục vụ sản xuất may mặc, trong khi năng lực sản xuất ở khâu dệt còn hạn chế. Đây là điểm nghẽn cần được tháo gỡ nếu muốn nâng cao sức cạnh tranh và giảm phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu trong dài hạn," ông Phạm Văn Việt khuyến nghị.
Tương tự dệt may, thủy sản là ngành chịu tác động lớn từ chính sách thuế bổ sung của Hoa Kỳ. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep), quyết định thuế bổ sung theo Mục 301 của Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ không thay thế các nghĩa vụ thuế hiện hành. Thuỷ sản Việt Nam vẫn phải chịu thuế MFN theo mã HTSUS của sản phẩm, đồng thời tiếp tục chịu thuế chống bán phá giá (AD), thuế chống trợ cấp (CVD) và các loại thuế, phí khác. Mức thuế bổ sung 12,5% sẽ được cộng thêm vào các nghĩa vụ thuế này.
Qua rà soát toàn bộ danh mục ngoại lệ, Vasep không ghi nhận bất kỳ sản phẩm thủy sản nào của Việt Nam được loại trừ, đồng nghĩa các sản phẩm thủy sản của Việt Nam đều phải chịu thuế bổ sung 12,5%.
Bà Lê Hằng, Phó Tổng thư ký Vasep, cho biết sau khi áp dụng thuế bổ sung theo Mục 301, tổng mức thuế mà tôm đông lạnh Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ lên tới 19,62%; cá ngừ đóng hộp chịu mức thuế từ 18,5-47,5% tùy chủng loại. Các mặt hàng thủy sản còn lại chịu mức thuế bổ sung 12,5%. Mức thuế này làm suy giảm khả năng cạnh tranh của thủy sản Việt Nam trước các đối thủ, đặc biệt là mặt hàng tôm khi chênh lệch thuế với Ecuador lên tới gần 6%.
Tiếp tục tái cấu trúc chuỗi cung ứng
Áp lực cạnh tranh là rất lớn, song bà Lê Hằng cho rằng thủy sản Việt Nam vẫn có những lợi thế nhất định nhờ sự đa dạng mặt hàng, năng lực chế biến sâu mà các quốc gia khác khó thay thế trong thời gian ngắn. Do đó, doanh nghiệp phải nhanh chóng tái cơ cấu sản phẩm, đẩy mạnh chế biến sản phẩm giá trị gia tăng nhằm củng cố vị thế lâu dài tại thị trường Hoa Kỳ.
Theo bà Lê Hằng, Hoa Kỳ viện dẫn việc Việt Nam chưa có quy định cấm nhập khẩu hàng hóa từ những nước có lao động cưỡng bức để áp dụng mức thuế bổ sung 12,5%. Tuy nhiên, ngày 22/7, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 292/2026/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương, trong đó có quy định cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất bằng lao động cưỡng bức và quy định 11 nhóm hàng hóa xuất khẩu có điều kiện.
Do thời điểm ban hành quá sát với thời điểm Hoa Kỳ công bố mức thuế nên chưa đủ thuyết phục để phía Hoa Kỳ thay đổi quyết định. Tuy nhiên, đây sẽ là cơ sở quan trọng để Việt Nam tiếp tục đối thoại với Hoa Kỳ nhằm đạt được thoả thuận thuế quan có lợi hơn cho doanh nghiệp. Vasep sẵn sàng phối hợp, cung cấp thông tin phục vụ Chính phủ và các bộ, ngành liên quan trong việc phản biện, thương lượng với phía Hoa Kỳ nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp, ngành hàng.
Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thông tin, Hoa Kỳ đang là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam, cũng là thị trường xuất khẩu chủ lực của nhiều mặt hàng quan trọng như dệt may, giày da, thuỷ sản, đồ gỗ nội thất,... Do đó, việc Hoa Kỳ xếp Việt Nam vào nhóm chịu thuế bổ sung 12,5% đang tạo bất lợi, ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh và biên lợi nhuận của nhiều ngành hàng.
Trong bối cảnh đó, việc rà soát chặt chẽ toàn bộ chuỗi cung ứng và triển khai quy trình truy xuất nguồn gốc nguyên liệu đầu vào nhằm loại bỏ hoàn toàn các yếu tố liên quan đến cáo buộc lao động cưỡng bức trở thành yêu cầu cấp thiết đối với doanh nghiệp và ngành hàng xuất khẩu.
Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký kiêm Trưởng Ban Pháp chế VCCI, cho biết kể từ khi Hoa Kỳ khởi xướng vụ việc điều tra theo Mục 301 Đạo luật Thương mại năm 1974, VCCI đã triển khai nhiều hoạt động nhằm hỗ trợ doanh nghiệp. Theo đó, VCCI bám sát diễn biến của vụ việc để cập nhật kịp thời các bước trong tiến trình điều tra, đồng thời cung cấp thông tin cho cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là những ngành hàng chịu tác động lớn, giúp doanh nghiệp chủ động xây dựng phương án ứng phó.
Bên cạnh đó, khi có cơ hội tham gia đóng góp ý kiến, VCCI đã chuẩn bị và gửi kiến nghị tới Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR), đồng thời vận động các hiệp hội doanh nghiệp quốc tế như AmCham lên tiếng ủng hộ Việt Nam. VCCI cũng phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành trong việc cung cấp thông tin phục vụ đoàn đàm phán và các cơ quan chức năng khi cần thiết, nhất là các dữ liệu liên quan đến ngành hàng của Việt Nam.
Theo ông Đậu Anh Tuấn, trong bối cảnh tình hình còn nhiều bất ổn và có thể phát sinh nhiều kịch bản khác nhau, việc cung cấp thông tin kịp thời, chính xác và chủ động cho doanh nghiệp là nhiệm vụ được VCCI đặc biệt chú trọng nhằm giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng thích ứng và giảm thiểu rủi ro./.
Thuế Mục 301 của Hoa Kỳ sẽ tác động thế nào đến thủy sản và gỗ Việt Nam?
Theo Phó Tổng thư ký VASEP, thuế Mục 301 làm suy giảm lợi thế cạnh tranh về giá của tôm Việt Nam, nhưng chưa đủ để làm thay đổi ngay vị trí của Việt Nam trong chuỗi cung ứng tôm vào Hoa Kỳ.