Mỗi độ hoa sú, hoa vẹt bung nở trên những cánh rừng ngập mặn ven biển, Vườn quốc gia Xuân Thủy, tỉnh Ninh Bình lại đón hàng vạn đàn ong tìm về lấy mật.
Được kết tinh từ nguồn hoa tự nhiên của hệ sinh thái ngập mặn, mật ong sú, vẹt mang hương vị đặc trưng, tinh khiết và được thị trường ưa chuộng. Không chỉ là sản vật của thiên nhiên, "vị ngọt từ biển" ấy còn góp phần tạo sinh kế, nâng cao thu nhập cho người nuôi ong và cư dân vùng đệm.
Sở hữu diện tích tự nhiên khoảng 14.500 ha, gồm 7.110 ha vùng lõi và gần 7.500 ha vùng đệm, Vườn quốc gia Xuân Thủy là khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam và Đông Nam Á, đồng thời là Khu dự trữ sinh quyển thế giới và Vườn di sản ASEAN, nơi hội tụ hệ sinh thái đất ngập nước đặc trưng vùng cửa sông ven biển.
Hàng năm từ tháng 5 đến tháng 8, khi mùa hoa sú, vẹt nở rộ có khoảng 50 chủ thể đưa đàn ong về lấy mật, ong được đặt xung quanh khu vực vùng lõi để khai thác tối đa mật hoa sú, vẹt.
Gắn bó nhiều năm với nghề nuôi ong di cư, anh Võ Văn Tòng, quê tỉnh Vĩnh Long cho biết, năm nay gia đình đưa 380 đàn ong về Vườn quốc gia Xuân Thủy khai thác mật hoa sú, hoa vẹt.
Những thùng ong được đặt tại khu vực giáp vùng lõi, nơi các cánh rừng ngập mặn đang vào mùa nở hoa, tạo điều kiện thuận lợi để đàn ong tìm nguồn mật tự nhiên.
Theo anh Tòng, mật ong sú, vẹt có màu vàng mơ, độ sánh vừa phải, hương thơm mang đậm hơi thở biển và vị ngọt thanh đặc trưng. Nhờ được tạo thành hoàn toàn từ nguồn hoa tự nhiên của rừng ngập mặn, sản phẩm chứa nhiều khoáng chất và được người tiêu dùng đánh giá cao.
Tuy nhiên, vụ mật năm nay không được như kỳ vọng. Sản lượng mật giảm khiến hiệu quả kinh tế của người nuôi ong cũng bị ảnh hưởng đáng kể. “ Từ đầu tháng 4 đến nay, 380 đàn ong mới cho thu hoạch bốn đợt mật, với tổng sản lượng khoảng 5 tấn, giảm từ 1,5 đến 2 tấn so với cùng kỳ các năm trước,” anh Tòng chia sẻ.
Lớn lên bên những cánh rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy, anh Phạm Quang Hưng, xã Giao Minh hiểu rõ đặc tính sinh trưởng của cây sú, cây vẹt cũng như quy luật ra hoa theo từng mùa.
Năm nay, anh đưa hơn 400 đàn ong trở về quê hương, lựa chọn đặt các thùng ong tại khu vực giao thoa giữa các luồng lạch - nơi rừng sú, vẹt sinh trưởng tốt, nguồn hoa tập trung nhiều.
Anh Hưng chia sẻ, điều kiện thời tiết năm nay diễn biến không thuận lợi, lượng mưa thấp kéo dài khiến thảm thực vật rừng ngập mặn phát triển kém, cây sú, cây vẹt ra hoa thưa và không đồng đều.
Nguồn mật tự nhiên suy giảm khiến đàn ong khó khai thác thức ăn, người nuôi phải thường xuyên bổ sung đường và các dưỡng chất cần thiết để duy trì sức khỏe, bảo đảm sự phát triển của đàn ong.
Hơn 400 đàn ong của gia đình anh Hưng năm nay mới cho thu hoạch năm đợt mật, giảm hai đợt so với mọi năm. Tổng sản lượng đạt khoảng 7 tấn, thấp hơn khoảng 3 tấn so với mức bình quân hằng năm.
Trong khi đó, giá bán mật ong trên thị trường vẫn chỉ dao động từ 56.000 đến 60.000 đồng/kg, gần như không tăng so với những năm trước, khiến thu nhập của người nuôi ong giảm đáng kể.
Không chỉ là nguồn sinh kế của các hộ nuôi ong di cư, nghề khai thác mật ong sú, vẹt còn đang được địa phương định hướng phát triển theo chuỗi giá trị nhằm nâng cao giá trị kinh tế từ hệ sinh thái rừng ngập mặn.
Từ năm 2025, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia triển khai mô hình nuôi ong ngoại (Apis mellifera) tại Vườn quốc gia Xuân Thủy nhằm xây dựng thương hiệu "Mật ong sú, vẹt" gắn với chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm. Mô hình sử dụng giống ong mật phương Tây có năng suất cao, phù hợp với vùng có nguồn hoa ổn định.
Bên cạnh việc hỗ trợ thùng nuôi, các hộ dân còn được tập huấn kỹ thuật chăm sóc, quản lý đàn ong, khai thác và bảo quản mật theo quy trình an toàn, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.
Theo ông Trịnh Văn Đoàn, tham gia mô hình nuôi ong ngoại giúp các hộ được tiếp cận quy trình kỹ thuật tiên tiến, từ chăm sóc đàn ong đến chế độ bổ sung dinh dưỡng theo từng giai đoạn phát triển.
Qua một năm thực hiện, đàn ong sinh trưởng tốt, năng suất mật cao hơn so với giống ong nuôi truyền thống, tạo thêm động lực để người dân mạnh dạn ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.
Thống kê của Vườn quốc gia Xuân Thủy, mùa hoa sú, hoa vẹt năm nay, khoảng 5.000-6.000 đàn ong đã về khai thác mật, sản lượng toàn vùng ước đạt từ 60 đến 70 tấn.
Đây là nguồn sản phẩm đặc hữu có giá trị kinh tế cao, đồng thời là một trong những sản phẩm tiêu biểu gắn với hệ sinh thái đất ngập nước của địa phương.
Để nâng cao giá trị sản phẩm, những năm gần đây, Vườn quốc gia Xuân Thủy phối hợp với chính quyền địa phương và các hộ sản xuất đẩy mạnh quảng bá, giới thiệu sản phẩm mật ong đạt chuẩn OCOP thông qua các hội chợ, triển lãm và hoạt động xúc tiến thương mại trong và ngoài tỉnh.
Việc xây dựng thương hiệu gắn với vùng nguyên liệu đặc thù đang từng bước giúp sản phẩm khẳng định vị thế trên thị trường, mở rộng đầu ra và nâng cao giá trị gia tăng.
Phó Giám đốc Vườn quốc gia Xuân Thủy Vũ Quốc Đạt cho biết, cùng với việc khai thác hợp lý nguồn lợi từ hệ sinh thái rừng ngập mặn, Vườn quốc gia Xuân Thủy và chính quyền địa phương đang từng bước hoàn thiện chuỗi giá trị cho sản phẩm mật ong sú, vẹt thông qua nâng cao chất lượng, chuẩn hóa quy trình sản xuất, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần khẳng định hướng đi đúng trong phát triển kinh tế xanh gắn với bảo tồn thiên nhiên, để "vị ngọt" từ những cánh rừng sú, vẹt tiếp tục lan tỏa trên thị trường./.
Ninh Bình phát triển thương hiệu mật ong Vườn quốc gia Xuân Thủy
Bên cạnh hỗ trợ dân chọn vị trí đặt thùng ong để lấy mật hiệu quả, Vườn quốc gia Xuân Thủy còn hỗ trợ công nghệ chế biến, tăng quảng bá thương hiệu giúp người nuôi ong mở rộng thị trường tiêu thụ.