Những dự án điện gió tại khu vực tỉnh Ninh Thuận cũ, nay là tỉnh Khánh Hòa. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)

Đánh thức tiềm năng điện gió: Kiến tạo nền tảng cho kỷ nguyên năng lượng mới

Điện gió ngoài khơi không chỉ là một nguồn năng lượng tái tạo, mà còn là nền tảng hình thành hệ sinh thái công nghiệp biển hiện đại, hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Mới đây, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã họp từ ngày 20/7 đến ngày 24/7/2026 tại Thủ đô Hà Nội. Sau khi xem xét, thảo luận các tờ trình, báo cáo của Bộ Chính trị, Trung ương đã quyết nghị thông qua nội dung các văn kiện quan trọng, trong đó có Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Trao đổi với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus về tiềm năng phát triển các ngành kinh tế biển mới như điện gió ngoài khơi, Phó Giáo sư-Tiến sỹ Đinh Văn Châu (Hiệu trưởng Trường Đại học Điện lực) nhấn mạnh đây không chỉ là một nguồn năng lượng tái tạo, mà còn là nền tảng hình thành hệ sinh thái công nghiệp biển hiện đại, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Hình thành ngành công nghiệp biển hiện đại

- Thưa Phó Giáo sư-Tiến sỹ Đinh Văn Châu, Việt Nam được đánh giá có tiềm năng rất lớn về điện gió ngoài khơi. Vậy “kho báu năng lượng” này cần được nhìn ra sao để không chỉ là một nguồn điện tái tạo mà còn trở thành động lực hình thành các ngành công nghiệp và chuỗi giá trị mới?

Phó Giáo sư-Tiến sỹ Đinh Văn Châu: Theo tôi, lợi thế chiến lược lớn nhất của điện gió ngoài khơi là tạo ra đồng thời ba lớp giá trị. Đó là bảo đảm an ninh năng lượng, thúc đẩy kinh tế biển và nâng cao năng lực công nghiệp - công nghệ quốc gia. Nếu chỉ nhìn vào công suất lắp đặt hay giá thành điện, chúng ta sẽ bỏ qua giá trị cốt lõi của lĩnh vực này.

Về an ninh năng lượng, điện gió giúp đa dạng hóa nguồn cung, giảm dần phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu trong bối cảnh nhu cầu điện tăng mạnh để phục vụ công nghiệp hóa, trung tâm dữ liệu, giao thông điện hóa và sản xuất các sản phẩm xanh. Đây là nguồn năng lượng có mật độ cao, hệ số sử dụng công suất tốt, ít cạnh tranh đất đai và có thể phân bố trên nhiều vùng biển. Nếu quy hoạch hợp lý, sự khác biệt về mùa gió sẽ bổ trợ cho nhau, từ đó nâng cao khả năng bảo đảm công suất của hệ thống điện.

Tuy nhiên, điện gió ngoài khơi không mặc nhiên đồng nghĩa với an ninh năng lượng. Một cụm nguồn công suất lớn nếu đấu nối vào lưới điện yếu hoặc phụ thuộc vào một tuyến cáp duy nhất vẫn tiềm ẩn nguy cơ mất nguồn trên diện rộng. Vì vậy, chỉ khi đi cùng hạ tầng truyền tải phù hợp, tiêu chí dự phòng, năng lực sửa chữa cáp, hệ thống lưu trữ và phương án khôi phục sau sự cố thì điện gió ngoài khơi mới thực sự phát huy giá trị.

Phó Giáo sư-Tiến sỹ Đinh Văn Châu, Hiệu trưởng Trường Đại học Điện lực. (Nguồn: Trường Đại học Điện lực)

Ở góc độ chuyển dịch năng lượng, đây là nguồn điện có vai trò quan trọng trong việc giảm dần sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” và cung cấp điện xanh cho các ngành xuất khẩu phải đáp ứng các tiêu chuẩn carbon ngày càng khắt khe. Trong tương lai, nguồn điện này còn có thể phục vụ sản xuất hydrogen xanh, amoniac xanh, nhiên liệu tổng hợp, cảng xanh và các khu công nghiệp ven biển. Tuy nhiên, không nên kỳ vọng vào hydrogen hay xuất khẩu năng lượng để trì hoãn đầu tư lưới điện.

Quan trọng hơn, điện gió ngoài khơi có khả năng hình thành một hệ sinh thái công nghiệp biển hoàn toàn mới. Một dự án không chỉ có tuabin mà còn bao gồm khảo sát khí tượng - hải dương, địa chất, thiết kế móng và kết cấu, cảng biển, tàu chuyên dụng, trạm điện ngoài khơi, hệ thống cáp, điều khiển - bảo vệ, giám sát, vận hành, bảo trì, bảo hiểm, tài chính, dữ liệu và đào tạo nhân lực. Mỗi mắt xích đều có thể phát triển thành một ngành dịch vụ hoặc phân khúc công nghiệp có giá trị gia tăng cao.

Vì vậy, điện gió ngoài khơi cần được xem như một chương trình phát triển công nghiệp - công nghệ quốc gia, chứ không chỉ là các dự án phát điện đơn lẻ. Mỗi dự án tiên phong không chỉ phải đưa điện lên lưới an toàn, đúng tiến độ mà còn phải tạo ra những năng lực có thể tái sử dụng cho các dự án tiếp theo, từ thiết kế tiêu chuẩn, mô hình kỹ thuật, quy trình vận hành, đội ngũ kỹ sư, phòng thử nghiệm HIL đến nền tảng dữ liệu và các doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia chuỗi cung ứng khu vực.

Tinh thần Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đều hội tụ ở lĩnh vực này.

Tôi tin, nếu được tổ chức và triển khai bài bản, điện gió ngoài khơi sẽ không chỉ là nguồn cung năng lượng sạch mà còn trở thành động lực hình thành ngành công nghiệp biển hiện đại, nâng cao năng lực tự chủ năng lượng và đưa doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực.

Cụm điện gió ngoài khơi ven biển thuộc xã Lai Hòa. (Ảnh: Trung Kiên/TTXVN)

Xác định vùng phát triển, tạo niềm tin dài hạn

- Nhiều ý kiến cho rằng mặc dù Việt Nam có tiềm năng rất lớn điện gió ngoài khơi, song hiện vẫn chưa phát triển tương xứng. Theo ông, đâu là những “nút thắt” cốt lõi cần ưu tiên tháo gỡ, để tạo niềm tin dài hạn cho nhà đầu tư, phát triển thị trường điện gió ngoài khơi minh bạch, ổn định?

Phó Giáo sư-Tiến sỹ Đinh Văn Châu: Trước hết, cần hiểu đúng khái niệm “tiềm năng.” Con số khoảng 600 GW mới phản ánh tiềm năng kỹ thuật, chứ không phải công suất có thể đưa ngay vào đầu tư.

Để một dự án điện gió ngoài khơi đi vào vận hành phải trải qua nhiều bước sàng lọc, từ quy hoạch không gian biển, khảo sát tài nguyên, địa chất, môi trường, lựa chọn nhà đầu tư, ký hợp đồng mua bán điện, bố trí vốn, chuẩn bị chuỗi cung ứng đến xây dựng và đấu nối. Chỉ cần một mắt xích chưa hoàn thiện, toàn bộ dự án có thể bị chậm lại.

Theo tôi, những nút thắt hiện nay tập trung ở các nhóm vấn đề sau đây. Thứ nhất, khung thể chế và thủ tục vẫn chưa thực sự đồng bộ. Nhà đầu tư cần một lộ trình rõ ràng, xuyên suốt từ quyền khảo sát, sử dụng dữ liệu, giao khu vực biển, cấp phép môi trường đến cơ chế giá, hợp đồng mua bán điện (PPA) và đấu nối. Điều quan trọng không chỉ là quy định, mà còn là tính minh bạch về thời hạn, tiêu chí và trách nhiệm của từng cơ quan.

Vẻ đẹp hoàng hôn trên ‘cánh đồng điện gió’ ở tỉnh Bạc Liêu cũ, nay là tỉnh Cà Mau. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Tiếp theo, quy hoạch nguồn chưa gắn chặt với quy hoạch hạ tầng truyền tải. Một khu vực có quy hoạch phát triển điện gió nhưng chưa xác định hành lang cáp, điểm cập bờ, quỹ đất trạm biến áp hay tiến độ đầu tư lưới điện thì rất khó thu hút dòng vốn dài hạn. Các điểm đấu nối và hạ tầng truyền tải cần được coi là nguồn lực chiến lược quốc gia.

Song song với đó, cơ chế doanh thu và phân bổ rủi ro chưa đủ khả năng huy động vốn. Điện gió ngoài khơi có suất đầu tư rất lớn, thời gian chuẩn bị kéo dài và chịu nhiều rủi ro về tỷ giá, lãi vay. Điều nhà đầu tư và các tổ chức tín dụng cần không chỉ là mức giá điện, mà là một cấu trúc hợp đồng đầy đủ, quy định rõ trách nhiệm khi chậm tiến độ lưới điện, cắt giảm công suất, thay đổi chính sách hay các trường hợp bất khả kháng.

Mặt khác, chuỗi cung ứng và năng lực tích hợp hệ thống còn hạn chế. Việt Nam cần từng bước nâng cao năng lực mô phỏng, kiểm thử và làm chủ các công nghệ tích hợp hiện đại. Ngoài ra, dữ liệu và quản lý không gian biển chưa được tổ chức như một hạ tầng dùng chung. Do vậy, các dữ liệu về địa chất, hải dương, nghề cá, môi trường, công trình giao cắt cần được quản lý trên nền tảng thống nhất và có cơ chế chia sẻ minh bạch.

Đối với từng vùng biển, mỗi khu vực đều có những đặc thù riêng. Vì thế, để tạo niềm tin dài hạn cho nhà đầu tư, theo tôi cần ưu tiên thực hiện đồng bộ sáu nhóm giải pháp: Sớm xác định vùng phát triển, hành lang cáp và điểm đấu nối; công bố lộ trình lựa chọn nhà đầu tư; hoàn thiện cơ chế giá và hợp đồng mua bán điện; triển khai đồng bộ quy hoạch nguồn với quy hoạch lưới; ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật đối với hệ thống điện gió ngoài khơi; đồng thời xây dựng cơ chế “một cửa” thực chất, có đầu mối chịu trách nhiệm xuyên suốt quá trình triển khai dự án.

Điện gió tại tỉnh Lâm Đồng. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Hạ tầng phải đi trước để khai mở nguồn lực

- Vậy theo ông, Việt Nam có nên chuyển từ mô hình mỗi dự án tự đấu nối sang quy hoạch đồng bộ theo cụm điện gió, trung tâm thu gom công suất và hành lang truyền tải dùng chung? Và đâu là những nguyên tắc cần xác lập ngay từ đầu để tránh đầu tư manh mún và lãng phí hạ tầng?

Phó Giáo sư-Tiến sỹ Đinh Văn Châu: Tôi đồng tình với quan điểm hạ tầng phải đi trước để khai mở nguồn lực, nhưng cần hiểu đúng “đi trước.”

Với điện gió ngoài khơi, hạ tầng trước hết phải đi trước bằng quy hoạch không gian biển, khảo sát, kiến trúc lưới điện, hành lang cáp, điểm cập bờ, nút đấu nối và kế hoạch phát triển lưới truyền tải trên bờ. Những nội dung này cần hoàn thành trước khi các dự án chốt thiết kế, đầu tư thiết bị.

Còn việc xây dựng hạ tầng vật lý quy mô lớn phải dựa trên mức độ sẵn sàng của dự án và nhu cầu thực tế, tránh đầu tư vượt trước quá xa dẫn đến lãng phí. Ở giai đoạn đầu, mô hình mỗi dự án tự xây dựng tuyến cáp và phương án đấu nối có thể phù hợp. Tuy nhiên, khi quy mô phát triển lên hàng chục gigawatt, sẽ bộc lộ nhiều hạn chế như gia tăng số điểm cập bờ, chồng lấn hành lang cáp, khó tối ưu lưới điện, tăng chi phí đầu tư và vận hành, đồng thời làm giảm khả năng chia sẻ hạ tầng giữa các dự án.

Vì vậy, nên chuyển dần sang quy hoạch đồng bộ theo cụm điện gió ngoài khơi, kết hợp trung tâm thu gom công suất, hành lang cáp và điểm cập bờ dùng chung, gắn với hệ thống truyền tải 500 kV trên bờ. Trong giai đoạn đầu vẫn có thể sử dụng các tuyến truyền tải điểm - điểm, nhưng cần thiết kế theo hướng sẵn sàng mở rộng (DC-ready) để từng bước phát triển thành mạng lưới truyền tải hiện đại khi quy mô thị trường đủ lớn.

Đặc biệt, quy hoạch cần có tầm nhìn 30-50 năm, không chỉ phục vụ một dự án riêng lẻ mà phải bảo đảm khả năng mở rộng cho các giai đoạn tiếp theo. Để mô hình này vận hành hiệu quả, trước hết cần có một đầu mối đủ thẩm quyền chịu trách nhiệm kiến trúc tổng thể của lưới điện ngoài khơi, bảo đảm sự phối hợp thống nhất giữa quy hoạch điện, quy hoạch không gian biển, địa phương và các ngành liên quan.

Mặt khác, quy hoạch nguồn, lưới điện, cảng biển, logistics, không gian biển và các trung tâm phụ tải phải được xây dựng trên cùng một kịch bản phát triển. Mọi phương án cần được đánh giá ở góc độ toàn hệ thống, thay vì tối ưu riêng từng dự án. Các yêu cầu về an ninh hệ thống, tiêu chuẩn kỹ thuật, khả năng tương tác giữa các thiết bị, phân định trách nhiệm và chia sẻ chi phí giữa các bên cũng cần được xác lập ngay từ đầu.

Như vậy, hạ tầng đi trước không có nghĩa là đầu tư trước bằng mọi giá, mà là đi trước bằng quy hoạch, tầm nhìn hệ thống và khả năng mở rộng, để khi dự án đủ điều kiện thì hạ tầng đã sẵn sàng đồng hành.

Điện gió bên cạnh đồi cát Bàu Trắng, tỉnh Lâm Đồng). (Ảnh: Nguyễn Thanh/TTXVN)

Xây dựng một hệ sinh thái triển khai đồng bộ

- Từ kinh nghiệm quốc tế và điều kiện thực tiễn của Việt Nam, theo ông cần một gói giải pháp đột phá thế nào để điện gió ngoài khơi thực sự trở thành trụ cột của chiến lược năng lượng và kinh tế biển?

Phó Giáo sư-Tiến sỹ Đinh Văn Châu: Kinh nghiệm quốc tế cho thấy những quốc gia thành công không chỉ phát triển từng dự án riêng lẻ, mà xây dựng một hệ sinh thái triển khai đồng bộ, từ quy hoạch không gian biển, hạ tầng truyền tải, cơ chế chính sách, chuỗi cung ứng, công nghệ, nguồn nhân lực đến bộ máy điều phối thống nhất. Việt Nam cũng cần tiếp cận hướng đó.

Trước hết, chúng ta cần hoàn thiện quy hoạch không gian biển gắn với kiến trúc lưới điện ngoài khơi, xác định rõ vùng ưu tiên phát triển, hành lang cáp, điểm cập bờ, trung tâm thu gom công suất và các nút đấu nối truyền tải.

Tiếp đó là xây dựng cơ chế lựa chọn dự án và hợp đồng mua bán điện đủ sức huy động vốn, bảo đảm minh bạch trong lựa chọn nhà đầu tư, phân bổ rủi ro hợp lý và tạo niềm tin cho các nguồn vốn dài hạn.

Một nhiệm vụ quan trọng khác là huy động mạnh mẽ khu vực tư nhân, kết hợp với các nguồn vốn xanh, hợp tác công - tư và tài chính quốc tế. Nhà nước nên tập trung đầu tư vào những hạ tầng chiến lược, dữ liệu, tiêu chuẩn kỹ thuật và các lĩnh vực mà tư nhân khó có thể tự đảm nhận.

Về lâu dài, chúng ta cần triển khai chương trình phát triển công nghệ và chuỗi cung ứng trong nước, ưu tiên những lĩnh vực Việt Nam có khả năng tham gia như kết cấu ngoài khơi, trạm điện, cáp điện, tích hợp hệ thống, dữ liệu, công nghệ số và dịch vụ kỹ thuật; coi dữ liệu và nguồn nhân lực là một dạng hạ tầng chiến lược, đầu tư bài bản cho đào tạo đội ngũ kỹ sư, chuyên gia và các phòng thử nghiệm phục vụ ngành điện gió ngoài khơi.

Nếu lựa chọn một “điểm mở,” tôi cho rằng trong khoảng 24 tháng tới, Việt Nam nên tập trung lựa chọn 1-2 cụm điện gió ngoài khơi tiên phong và hoàn thiện toàn bộ các điều kiện để đưa các cụm này đến ngưỡng có thể ra quyết định đầu tư. Khi một dự án tiên phong được triển khai thành công, toàn bộ kinh nghiệm, tiêu chuẩn kỹ thuật, dữ liệu và mô hình quản lý sẽ trở thành nền tảng để nhân rộng trên phạm vi cả nước.

Như vậy, Việt Nam cần chuyển từ tư duy “quản lý tiềm năng” sang “quản trị danh mục dự án có khả năng triển khai.” Thành công không nằm ở số lượng đề xuất hay diện tích khảo sát, mà ở số dự án có đầy đủ hạ tầng, nguồn vốn, hợp đồng, chuỗi cung ứng và đủ điều kiện đưa vào vận hành đúng tiến độ. Khi đó, điện gió ngoài khơi mới thực sự trở thành một trụ cột của an ninh năng lượng, kinh tế biển và quá trình phát triển đất nước./.

Trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư-Tiến sỹ Đinh Văn Châu!

Việt Nam được đánh giá có tiềm năng rất lớn về điện gió ngoài khơi. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)
(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục