Đột phá theo Nghị quyết 57: Ba trụ cột cho công nghệ chiến lược

Từ hoàn thiện thể chế, hình thành lực lượng doanh nghiệp công nghệ chiến lược đến đầu tư cho nghiên cứu nền tảng, ba trụ cột quan trọng cho phát triển công nghệ chiến lược đang dần được định hình.

Phòng thí nghiệm Công nghệ Sinh học của Trường Đại học Quốc tế, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện nhiều nghiên cứu chuyên sâu, kỹ thuật nguồn trên thế giới. (Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN)
Phòng thí nghiệm Công nghệ Sinh học của Trường Đại học Quốc tế, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện nhiều nghiên cứu chuyên sâu, kỹ thuật nguồn trên thế giới. (Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN)

Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng để phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gắn chặt với năng lực làm chủ công nghệ, yêu cầu đặt ra không chỉ là ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật mà còn phải từng bước xây dựng năng lực tự chủ đối với các công nghệ chiến lược.

Những hoạt động diễn ra trong thời gian gần đây cho thấy quá trình hiện thực hóa mục tiêu đó đang được thúc đẩy theo hướng đồng bộ hơn. Từ hoàn thiện thể chế, hình thành lực lượng doanh nghiệp công nghệ chiến lược đến đầu tư cho nghiên cứu nền tảng, ba trụ cột quan trọng cho phát triển công nghệ chiến lược đang dần được định hình.

Hoàn thiện thể chế để khơi thông nguồn lực

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm được đặt ra trong quá trình triển khai Nghị quyết 57 là tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Tại cuộc họp ngày 17/6 do Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng chủ trì về các văn bản hướng dẫn Luật Công nghệ cao và các văn bản chính sách còn nợ ban hành trong 6 tháng đầu năm 2026, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết đang tập trung hoàn thiện Nghị định quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Công nghệ cao, Nghị định hướng dẫn một số điều và biện pháp thi hành Luật Chuyển đổi số cùng nhiều cơ chế liên quan đến phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

ttxvn-viet-nam-nhat-ban-21.jpg
Công ty TAZMO Việt Nam (100% vốn đầu tư Nhật Bản tại Khu công nghiệp Long Hậu, tỉnh Tây Ninh) là một trong những đơn vị tiên phong trong lĩnh vực chế tạo rô bốt, thiết bị công nghệ cao phục vụ ngành bán dẫn. (Ảnh: Thành Phương/TTXVN)

Bộ cũng đã trình Chính phủ chờ phê duyệt nghị định liên quan đến Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia, nghiên cứu phương án đối với Quỹ Phát triển trí tuệ nhân tạo quốc gia và hướng dẫn các bộ, ngành xây dựng đề xuất nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược gắn với các bài toán lớn của quốc gia.

Cùng với đó, Chính phủ yêu cầu khẩn trương hoàn thiện Nghị quyết xử lý những khó khăn, vướng mắc trong quy định về lập, phân bổ và giao dự toán chi sự nghiệp khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; xây dựng Chỉ thị đẩy mạnh giải ngân vốn ngân sách nhà nước trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Việc tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế tài chính, thủ tục và phân bổ nguồn lực được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện để các chương trình nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ chiến lược được triển khai hiệu quả hơn trong thời gian tới. Tuy nhiên, thể chế chỉ là một phần của bài toán. Để các mục tiêu công nghệ chiến lược đi vào thực tiễn, cần có lực lượng đủ năng lực nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa công nghệ.

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án hình thành các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước để phát triển hạ tầng số, nhân lực số, dữ liệu số, công nghệ chiến lược và an ninh mạng giai đoạn 2026-2030.

Theo đề án, đến năm 2030 Việt Nam phấn đấu hình thành tối thiểu 10 doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn, có doanh thu từ 1 tỷ USD trở lên, sử dụng trên 5.000 lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm, duy trì tỷ lệ đầu tư cho nghiên cứu và phát triển từ 3% doanh thu trở lên và sở hữu ít nhất một bằng sáng chế được cấp bởi các cơ quan sở hữu trí tuệ hàng đầu thế giới.

Các doanh nghiệp này được xác định là lực lượng nòng cốt trong việc làm chủ, phát triển và thương mại hóa các công nghệ chiến lược; tham gia thực hiện các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030 triển khai và đưa vào hoạt động thêm tối thiểu 6 tuyến cáp quang biển mới, trong đó có ít nhất một tuyến do Việt Nam làm chủ đầu tư; phát triển hạ tầng 5G phủ sóng tới 99% dân số; xây dựng thêm tối thiểu 5 trung tâm dữ liệu quy mô lớn đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và tiêu chuẩn xanh.

Trong lĩnh vực công nghệ chiến lược, các doanh nghiệp được kỳ vọng góp phần giúp Việt Nam làm chủ tối thiểu 70% công nghệ chiến lược thuộc danh mục đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành.

Đề án cũng nhấn mạnh việc thúc đẩy các chương trình đồng nghiên cứu giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học; hỗ trợ chuyển giao công nghệ, bảo hộ sở hữu trí tuệ, kết nối đầu tư và mở rộng thị trường. Việc hình thành lực lượng doanh nghiệp công nghệ chiến lược được xem là bước đi quan trọng nhằm thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng, giữa kết quả khoa học với sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Đầu tư cho khoa học nền tảng và công nghệ tương lai

Song song với việc xây dựng lực lượng doanh nghiệp dẫn dắt, nhiều hoạt động cũng đang được triển khai nhằm củng cố nền tảng khoa học cho các công nghệ có khả năng tạo ra những thay đổi lớn trong tương lai. Một trong những điểm đáng chú ý thời gian gần đây là các diễn đàn, hội thảo chuyên sâu về công nghệ lượng tử, công nghệ hạt nhân và vật liệu số đã được tổ chức nhằm giới thiệu tới công chúng thông tin sâu hơn về kiến thức chuyên ngành này.

ttxvn-thanh-pho-ho-chi-minh-no-luc-hoan-thien-he-sinh-thai-nghien-cuu-dao-tao-vi-mach-ban-dan-7296610.jpg
Các sinh viên nghiên cứu thực hành tại Trung tâm Đào tạo Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN)

Tại chương trình “HCMC Quantum-Ready Day 2026: Từ bài toán Thành phố đến năng lực doanh nghiệp và nguồn nhân lực tương lai” được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, các chuyên gia cho rằng công nghệ lượng tử đang dần chuyển từ phạm vi nghiên cứu hàn lâm sang các ứng dụng trong dữ liệu, bảo mật, tài chính, logistics và hạ tầng số.

Thành phố Hồ Chí Minh đang hướng tới cách tiếp cận “Quantum-Ready”, chuẩn bị từ sớm về nhân lực, dữ liệu, hạ tầng nghiên cứu, năng lực bảo mật hậu lượng tử và cơ chế hợp tác giữa khu vực công với khu vực tư.

Chia sẻ tại Hội thảo khoa học quốc gia “Công nghệ lượng tử trong kỷ nguyên mới: Xu hướng quốc tế, cơ hội và yêu cầu đặt ra cho Việt Nam,” các nhà khoa học nhận định công nghệ lượng tử không chỉ là máy tính lượng tử mà còn bao gồm truyền thông lượng tử, bảo mật lượng tử, cảm biến lượng tử, vật liệu, quang tử và nhiều lĩnh vực liên ngành khác.

Các chuyên gia đề xuất xây dựng mô hình mạng lưới nghiên cứu theo cấu trúc “Hub-and-Nodes” giai đoạn 2026-2045, trong đó một trung tâm quốc gia đóng vai trò điều phối chung, kết nối các cơ sở nghiên cứu trọng điểm nhằm tập trung nguồn lực và tăng cường hợp tác liên ngành.

Bên cạnh lượng tử, công nghệ hạt nhân cũng được xác định là lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược. Tại Hội thảo “Xu hướng công nghệ lượng tử, hạt nhân và công bố quốc tế đỉnh cao” do Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tổ chức, Giáo sư, Tiến sỹ Trần Hoài Nam (Đại học Phenikaa) cho biết điện hạt nhân hiện cung cấp khoảng 9% sản lượng điện toàn cầu và là một trong những nguồn điện phát thải carbon thấp quan trọng nhất.

Theo Chiến lược Năng lượng nguyên tử quốc gia, điện hạt nhân được định hướng trở thành ngành kinh tế-kỹ thuật mũi nhọn, đóng góp khoảng 6-8% tổng sản lượng điện quốc gia vào năm 2050.

Cũng tại hội thảo này, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Chu Hoàng Hà nhấn mạnh khoa học không thể dừng lại ở các công bố quốc tế mà phải hướng tới làm chủ công nghệ chiến lược và công nghệ lõi.

Viện Hàn lâm đang từng bước chuyển từ tư duy “giao việc” sang “kết quả đầu ra,” tập trung đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản tiên tiến, tạo nền tảng cho phát triển các công nghệ chiến lược trong tương lai.

Những hoạt động này cho thấy cùng với việc đầu tư cho các công nghệ ứng dụng trước mắt, Việt Nam cũng đang chú trọng xây dựng nền tảng tri thức và nguồn nhân lực cho các lĩnh vực có khả năng định hình năng lực cạnh tranh quốc gia trong nhiều thập niên tới.

“Hoàn thiện thể chế, xây dựng lực lượng doanh nghiệp công nghệ chiến lược, đầu tư cho nghiên cứu nền tảng.” Đây là ba trụ cột quan trọng cho phát triển công nghệ chiến lược. Sự kết nối giữa ba trụ cột này sẽ quyết định khả năng làm chủ công nghệ chiến lược và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đó cũng là tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết 57: Xây dựng hệ sinh thái khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đủ mạnh để tạo ra những động lực phát triển mới cho đất nước trong giai đoạn phát triển tiếp theo./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục