Việt Nam - cửa ngõ kết nối nông nghiệp Canada-ASEAN

Cơ quan chính phủ và doanh nghiệp Canada đang tìm kiếm cơ hội mở rộng thương mại, đầu tư và hợp tác công nghệ nông nghiệp với Việt Nam, coi đây là thị trường quan trọng và điểm kết nối với Đông Nam Á.

Thu hoạch trên cánh đồng lúa chín vàng tại Đồng bằng sông Cửu Long. (Ảnh: Thanh Sang/TTXVN)
Thu hoạch trên cánh đồng lúa chín vàng tại Đồng bằng sông Cửu Long. (Ảnh: Thanh Sang/TTXVN)

Trong bối cảnh nhu cầu đa dạng hóa thị trường và xây dựng chuỗi cung ứng nông sản bền vững ngày càng tăng, các cơ quan chính phủ, chuyên gia và doanh nghiệp Canada đang tìm kiếm cơ hội mở rộng thương mại, đầu tư và hợp tác công nghệ nông nghiệp với Việt Nam, coi đây là thị trường quan trọng và điểm kết nối với khu vực Đông Nam Á.

Theo phóng viên TTXVN tại Ottawa, nội dung trên được nhấn mạnh tại hội thảo về quan hệ đối tác thương mại và đầu tư nông nghiệp Canada-Việt Nam, do Hội đồng Thương mại Canada-Việt Nam tổ chức, với sự tham dự của đại diện các cơ quan chính phủ, giới nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp hai nước.

Phát biểu tại hội thảo, ông Greg Folinazzo, đại diện Bộ Nông nghiệp và Thực phẩm Canada, cho rằng Việt Nam là thị trường ưu tiên và là cửa ngõ chiến lược đối với ngành nông nghiệp Canada tại Đông Nam Á.

Xuất khẩu nông sản, thực phẩm và thủy sản của Canada sang Việt Nam tăng trung bình 22,7%/năm trong giai đoạn 2021-2025, đạt khoảng 702 triệu CAD (503,5 triệu USD) trong năm 2025. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực gồm lúa mì, đậu tương, thịt bò đông lạnh, cua đông lạnh và khô dầu cải.

Ở chiều ngược lại, Canada nhập khẩu khoảng 964 triệu CAD nông sản và thực phẩm từ Việt Nam trong năm 2025, chủ yếu là tôm, cá phi lê và các sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng. Cơ cấu thương mại này cho thấy tính bổ trợ rõ nét giữa hai nền kinh tế, đồng thời tạo dư địa để phát triển thương mại hai chiều và kết nối chuỗi cung ứng.

Ông Calvin Xiao, Quản lý quan hệ cấp cao của Cơ quan Phát triển Xuất khẩu Canada (EDC), nhận định Việt Nam là thị trường then chốt không chỉ nhờ quy mô dân số và nhu cầu trong nước ngày càng tăng, mà còn bởi khả năng kết nối doanh nghiệp Canada với các thị trường khác tại Đông Nam Á.

Theo ông, trong bối cảnh Canada đẩy mạnh đa dạng hóa thương mại và giảm mức độ phụ thuộc vào thị trường Bắc Mỹ, Việt Nam có thể đóng vai trò kép, vừa là thị trường tiêu thụ hàng hóa Canada, vừa là điểm tựa để doanh nghiệp nước này xây dựng năng lực sản xuất và mở rộng hoạt động trong khu vực.

Bà Natujwa Maliondo, cán bộ Phát triển thương mại cấp cao thuộc Bộ Nông nghiệp và Thủy lợi tỉnh bang Alberta, cho rằng doanh nghiệp Canada không nên chỉ nhìn vào quy mô thị trường Việt Nam mà cần đặt Việt Nam trong chiến lược tiếp cận toàn bộ Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đang tạo điều kiện để doanh nghiệp hai nước hưởng ưu đãi thuế quan và tiếp cận thị trường thuận lợi hơn.

Tuy nhiên, để thu hút thêm đầu tư của Canada vào lĩnh vực nông nghiệp, thực phẩm và chế biến của Việt Nam, cũng như khuyến khích đầu tư của Việt Nam vào Canada, hai bên cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính và cải thiện môi trường chính sách cho doanh nghiệp.

Các đại biểu nhận định Canada khó cạnh tranh với một số nhà cung cấp gần Việt Nam hơn nếu chỉ xét về giá và chi phí vận chuyển. Tuy nhiên, nông sản Canada có lợi thế về độ tin cậy, an toàn thực phẩm, khả năng truy xuất nguồn gốc, chất lượng dinh dưỡng và tiêu chuẩn môi trường.

Bên cạnh thương mại hàng hóa, hợp tác nông nghiệp Việt Nam-Canada đang mở rộng sang nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ, với nhiều lĩnh vực tiềm năng như nông nghiệp chính xác, thủy canh, công nghệ phân bón, chế biến sâu, bảo quản sau thu hoạch, giảm phát thải và xây dựng hệ thống đo lường tín chỉ carbon.

Giáo sư Huy Đặng thuộc Đại học Trent cho rằng biến đổi khí hậu đang làm thay đổi phương thức sản xuất lương thực tại cả Canada và Việt Nam. Canada phải đối mặt với mùa Đông khắc nghiệt và nhu cầu tăng khả năng tự chủ về lương thực, trong khi Đồng bằng sông Cửu Long chịu tác động của xâm nhập mặn, sụt lún đất và nước biển dâng.

Theo ông, hệ thống thủy canh có thể là một hướng hợp tác đáng chú ý do có khả năng tiết kiệm tới 90% lượng nước, qua đó hỗ trợ sản xuất tại những khu vực nguồn nước mặt bị nhiễm mặn hoặc phải hạn chế khai thác nước ngầm.

Giáo sư Huy Đặng cho biết nhóm nghiên cứu của ông dự kiến phối hợp với một viện nghiên cứu lúa tại Cần Thơ để thử nghiệm thực địa một số giải pháp công nghệ. Ông nhấn mạnh sự tham gia của các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và đối tác địa phương có vai trò quan trọng trong việc đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất.

Về nhu cầu công nghệ tại Việt Nam, bà Maliondo cho biết các yêu cầu mà phía Alberta tiếp nhận gần đây tập trung vào nông nghiệp chính xác, tối ưu hóa sản lượng và các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu. Việt Nam đang chuyển dần khỏi mô hình sản xuất sử dụng nhiều lao động, qua đó tạo nhu cầu ngày càng lớn đối với các giải pháp nâng cao năng suất và hiệu quả.

Các doanh nghiệp tham dự hội thảo cũng chia sẻ rằng việc tìm đúng đối tác địa phương, hiểu văn hóa kinh doanh và xây dựng quan hệ lâu dài có ý nghĩa quan trọng. Doanh nghiệp Canada có thể tập trung vào các phân khúc chuyên biệt, phát huy thế mạnh về chất lượng, công nghệ và thương hiệu thay vì cạnh tranh trực tiếp với những nhà cung cấp đã có vị thế.

Với nền tảng CPTPP và triển vọng tăng cường quan hệ kinh tế Canada-ASEAN, hợp tác nông nghiệp được kỳ vọng trở thành một hướng đi thiết thực trong quan hệ Việt Nam-Canada. Việc kết hợp thế mạnh về công nghệ, nghiên cứu và nguồn cung của Canada với quy mô thị trường, năng lực sản xuất và vị trí kết nối khu vực của Việt Nam có thể mở ra thêm các cơ hội thương mại, đầu tư và đổi mới sáng tạo cùng có lợi./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục