Thị trường carbon Việt Nam đang chuyển từ giai đoạn hình thành thể chế sang những bước đi cụ thể hơn, trong đó kết nối cung-cầu được xem là mắt xích quan trọng để biến tiềm năng giảm phát thải thành hàng hóa có giá trị.
Từ những dự án tạo tín chỉ, hệ thống đo lường-thẩm định đến nhu cầu mua, trao đổi và bù trừ phát thải của doanh nghiệp, việc hình thành các giao dịch thực chất sẽ là bước kiểm chứng quan trọng, đưa thị trường carbon từ chính sách vào thực tiễn, tạo thêm động lực kinh tế cho quá trình chuyển đổi xanh.
Những kết nối giao dịch đầu tiên
Ngày 14/8, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Viện Tư vấn và Phát triển, Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), với sự hỗ trợ của Cục Kinh tế Liên bang Thụy Sĩ, đã tổ chức Diễn đàn Carbon Việt Nam 2026: “Từ chính sách đến hành động” với sự tham dự trực tiếp của 400 đại biểu Trung ương, địa phương, hiệp hội, công ty chứng khoán, các định chế tài chính-ngân hàng thương mại, quỹ đầu tư các doanh nghiệp, tổ chức quốc tế.
Một điểm nhấn đáng chú ý của diễn đàn là phiên kết nối doanh nghiệp nhằm thúc đẩy kết nối giữa bên cung ứng tín chỉ carbon với các doanh nghiệp có nhu cầu mua, trao đổi và bù trừ phát thải. Hoạt động này cho thấy thị trường carbon đang từng bước chuyển từ câu chuyện chính sách, tiêu chuẩn và nhận thức sang yêu cầu hình thành các quan hệ cung - cầu thực tế.
Theo đó, tại diễn đàn, hai Biên bản ghi nhớ hợp tác về kết nối cung-cầu hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon đã chính thức được ký kết, đánh dấu bước chuyển từ đối thoại, chia sẻ thông tin sang những cam kết hợp tác cụ thể giữa: Viện Tư vấn Phát triển và Công ty Cổ phần Quốc tế Ngọc Viễn Đông; Công ty Cổ phần Khoa học & Môi trường Giant Barb và Công ty Rockpine.
Hoạt động trên diễn ra trong bối cảnh nguồn cung tín chỉ carbon tại Việt Nam đang từng bước hình thành. Ông Nguyễn Tuấn Quang - Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu cho biết hiện đã có hàng trăm dự án theo Cơ chế phát triển sạch (CDM) được cấp tín chỉ. Một số dự án đang chuyển đổi sang cơ chế mới theo Thỏa thuận Paris. Ngoài ra, Việt Nam đã có hơn 10 dự án theo Cơ chế tín chỉ chung (JCM) và nhiều dự án theo các tiêu chuẩn carbon khác.
Theo ông Quang, sự phát triển của các dự án carbon cũng mở ra nhu cầu đối với các tổ chức thẩm định. Hiện có khoảng 30 tổ chức đáp ứng yêu cầu về chứng nhận, xác nhận giá trị sử dụng theo quy định.
“Đây là một trong những mắt xích cần thiết bởi lượng giảm phát thải phải được đo lường, thẩm định và chứng nhận trước khi có thể trở thành tín chỉ giao dịch trên thị trường,” ông Quang nhấn mạnh.
Làm rõ thêm về cách thức vận hành thị trường carbon, bà Phạm Liên Anh - Trưởng Chương trình Tư vấn Cải cách và Nghiên cứu Kinh tế Việt Nam, Lào, Campuchia của IFC, cho biết mức độ quan tâm của doanh nghiệp đang tăng rõ rệt. Đáng chú ý, nhiều doanh nghiệp đã, đang hoặc chuẩn bị xây dựng dự án carbon gắn với các giải pháp giảm phát thải.
“Cục Biến đổi khí hậu và IFC cũng đang chuẩn bị sổ tay hướng dẫn nhằm cung cấp các chỉ dẫn thực tiễn cho doanh nghiệp xây dựng dự án,” bà nói.
Tuy vậy, theo bà Liên Anh, sự quan tâm ngày càng lớn chưa đồng nghĩa thị trường trong nước có thể lập tức phát triển mạnh. Điều đó còn phụ thuộc vào việc hoàn thiện các tiêu chuẩn carbon trong nước, xây dựng quy trình chứng nhận thuận lợi và quan trọng hơn là giúp doanh nghiệp hiểu rõ cách thức tham gia thị trường. Bởi lẽ, một thị trường chỉ thực sự vận hành khi có cả nguồn cung đủ tin cậy và nhu cầu đủ lớn.
Nhu cầu được kỳ vọng gia tăng khi thị trường carbon vượt qua giai đoạn thí điểm, số lượng doanh nghiệp phải giao dịch hạn ngạch mở rộng. Khi đó, tín chỉ từ các dự án giảm phát thải sẽ có thêm đầu ra từ thị trường trong nước.
Mở rộng thị trường, nâng giá carbon giảm được
Theo giới chuyên gia, không gian thị trường carbon hiện không chỉ nằm ở nhu cầu trong nước mà ngày càng chặt với yêu cầu thương mại quốc tế.
Cập nhật về Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU), ông Neeraj Joshi - đại diện IFC cho biết CBAM yêu cầu các nhà nhập khẩu vào châu Âu cung cấp chứng nhận về lượng phát thải carbon gắn với hàng hóa nhập khẩu. Đến nay, EU đã tổ chức hai đợt đấu giá; chi phí tuân thủ thông qua các chứng nhận hiện ở mức khoảng 75 euro/tấn CO₂e.
Đáng chú ý, dự thảo của EU cho phép 10% nghĩa vụ tuân thủ CBAM được bù trừ bằng tín chỉ carbon. Nếu được thông qua, đây có thể trở thành một nguồn cầu mới đối với tín chỉ carbon trên thị trường quốc tế, đồng thời mở ra thêm cơ hội cho các quốc gia có tiềm năng tạo tín chỉ, trong đó có Việt Nam.
Ở trong nước, thị trường carbon cũng đang từng bước thiết lập những điều kiện để các loại tín chỉ có chất lượng được lưu thông. Theo lãnh đạo Cục Biến đổi khí hậu, việc công nhận các tín chỉ carbon được phát triển theo những tiêu chuẩn độc lập như Verra, Gold Standard để giao dịch trên thị trường trong nước sẽ được xem xét trong thời gian tới.
Bên cạnh đó, các tiêu chuẩn bổ sung khác sẽ được Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với các bộ, ngành nghiên cứu, đánh giá trên cơ sở bảo đảm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu và tiêu chuẩn theo quy định.
Một điểm đáng chú ý khác là cơ chế hình thành giá. Theo ông Nguyễn Tuấn Anh - Phó Tổng Giám đốc Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), thị trường carbon trong nước hiện không quy định biên độ dao động giá, đơn vị yết giá là đồng. Với những tín chỉ thuộc diện được phép giao dịch, sau khi được đăng ký trên Hệ thống đăng ký quốc gia và chuyển sang hệ thống lưu ký, việc mua bán được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên.
Theo đại diện lãnh đạo HNX, giá do bên mua và bên bán tự thỏa thuận, không bị giới hạn bởi giá trần, giá sàn hay biên độ dao động. Cơ chế này tạo điều kiện để các bên chủ động xác lập giá phù hợp với chất lượng, nguồn gốc và các đặc tính của từng loại tín chỉ.
Còn Tiến sỹ Lê Xuân Nghĩa - Viện trưởng Viện Tư vấn và Phát triển, Ủy viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ Quốc gia, dẫn dự báo của Ngân hàng Thế giới và cho rằng mức khoảng 147 USD/tấn carbon là ngưỡng có thể tạo ra tác động đủ lớn tới quyết định của các chủ thể phát thải.
Theo ông Nghĩa, khi giá còn thấp hơn nhiều, sức ép kinh tế để doanh nghiệp thay đổi công nghệ, đầu tư giảm phát thải chưa thực sự mạnh.
"Điều này xuất phát từ bản chất của cơ chế định giá carbon. Khi phát thải trở thành một khoản chi phí đáng kể, doanh nghiệp phải đặt lên bàn cân giữa tiếp tục trả tiền cho lượng phát thải và bỏ vốn đầu tư công nghệ, thay đổi quy trình sản xuất để giảm lượng khí nhà kính," ông Nghĩa nhìn nhận.
Ở góc độ doanh nghiệp, một vấn đề khác cũng cần được nhận diện là nhiều khoản đầu tư giảm phát thải đang chưa được nhìn nhận đầy đủ dưới góc độ tạo giá trị kinh tế. Theo bà Phạm Liên Anh, khảo sát phối hợp giữa IFC và Cục Biến đổi khí hậu năm 2025 tại một số ngành có tiềm năng tạo tín chỉ carbon cho thấy nhiều doanh nghiệp đã triển khai các giải pháp tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải nhưng chưa biết những kết quả đó có thể gắn với việc phát triển dự án tín chỉ carbon. Điều này đồng nghĩa một nguồn doanh thu tiềm năng vẫn chưa được khai thác.
Bà Liên Anh khuyến nghị để tham gia thị trường carbon, trước hết doanh nghiệp phải biết mình phát thải bao nhiêu, nguồn phát thải chính nằm ở đâu và có khả năng đo lường, giám sát, báo cáo, thẩm định (MRV) các số liệu này. Tuy nhiên, khảo sát cho thấy năng lực MRV của doanh nghiệp Việt Nam còn khá hạn chế, việc triển khai cũng như số hóa dữ liệu mới ở bước đầu.
Để có thể tiến thêm một bước, theo bà Liên Anh, doanh nghiệp cần xác định giải pháp hoặc dự án nào có khả năng giảm phát thải và có thể phát triển thành tín chỉ carbon. Doanh nghiệp cũng nên xác định tín chỉ tạo ra sẽ hướng tới thị trường nào, như thị trường tự nguyện, thị trường tuân thủ, thị trường trong nước hay chuyển giao quốc tế theo Điều 6.2 Thỏa thuận Paris./.
Tín chỉ carbon rừng được định giá theo chất lượng để đưa lên sàn giao dịch
Trường hợp giá tín chỉ carbon rừng thu thập được có đơn vị tính giá là ngoại tệ thì quy đổi thành đồng Việt Nam hoặc tỷ giá tính thuế do Ngân hàng công bố tại thời điểm xác định mức chi trả.